TIỂU SỬ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC NHIÊN

Chủ nhật - 02/04/2017 04:16
Trên phương tiện tôn vinh và nhiệm mệnh thực tế, chức vụ TĂNG THỐNG có từ đời Vua Đinh Tiên Hoàng (theo tài liệu; Con người Bồ Tát, tạp chí Hải Triều Âm số 4-5, của Thạch Trung Giả). Sau khi khai đạo cho Vua, Khuông Việt thiền sư đã nghiễm nhiên trở thành vị TĂNG THỐNG đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam, do Vua Đinh Tiên Hoàng sắc phong. Năm tháng trải dài trên mười thế kỷ, chức vụ đó, có khi được hoán vị thành hình, sự suy tôn TĂNG THỐNG được bắt đầu phục hồi. Đặc biệt trong lúc này, việc tấn phong không do Triều đình hay Chính quyền mà do đại diện của toàn thể TĂNG NI tín đồ Phật Giáo suy tôn.
Lúc này, vị đệ nhất Tăng Thống của Giáo hội là Đức cố Hòa Thượng THÍCH TỊNH KHIẾT. Kế đến là Đức Đệ nhị TĂNG THỐNG Đại lão Hòa Thượng THÍCH GIÁC NHIÊN, mà hôm nay, chúng ta đang ôn lại quảng đời của Ngài. Ngôi vị đó, kết tinh công hạnh Phụng Đạo Cứu Đời trong dòng truyền thừa Chánh pháp.

THÂN THẾ:

Ngài tên thật là VÕ CHÍ THÂM, sinh ngày 07 tháng 01 năm 1878, tại làng Ái Tử, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Con của Cụ VÕ VĂN XƯNG, và Bà TRẦN THỊ DIỀU.

ẤU THỜI:

Năm lên 7, Ngài bắt đầu theo học chữ Nho, với tư chất thông minh, không bao lâu, Ngài đã tinh thông Nho học. Nhờ túc duyên của nhiều đời, chí xuất trần cưu mang trong chủng tử, Ngài đã phát tâm xuất gia Thọ giáo với Hòa Thượng TÂM TỊNH (Trú trì Chùa Tây Thiên-Huế, lúc bấy giờ) và được ban Pháp danh là (Thượng) TRỪNG (hạ) THỦY, Pháp tự là CHÍ THÂM, Pháp hiệu là GIÁC NHIÊN.

THỜI GIAN TU HỌC:

Sau hai mươi ba năm tu học, Ngài chuyên tâm nghiên cứu tinh yếu của Kinh Luật Đại thừa, đặc biệt Ngài đã sử dụng phần lớn thời gian trong việc Thiền định. Vì thế, đạo phong của Ngài, ngày càng đượm nét Thiền sư.

Đến năm Canh Tuất, (1895), Triều Duy Tân, Ngài cùng với Hòa Thượng TỊNH KHIẾT (Cố Đệ nhất Tăng Thống Giáo hội PGVNTN) Thọ Tam đàn Cụ túc tại Giới đàn Chùa Phước Lâm (Hội An). Đại giới đàn này do Ngài VĨNH GIA làm Đàn đầu, Ngài TÂM TRUYỀN làm Yết ma và Ngài HOẰNG PHÚ làm Giáo thọ. Từ đó, giới đức tinh nghiêm, pháp thạn thanh tịnh là kim chỉ nam trong suốt cuộc đời hành hóa của Ngài sau này.

CÔNG NGHIỆP HOẰNG PHÁP:

Mãi đến năm 1932, cùng các Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ (Chùa Thập Tháp, Bình Định), GIÁC TIÊN, HT. TỊNH HẠNH, cư sĩ TÂM MINH, TRƯƠNG XƯỚNG … Sáng lập Hội An Nam Phật Học. Hội đã Cung thỉnh Ngài đảm nhiệm chức vụ Chứng minh Đại Đạo sư và kiêm nhiệm Giám đốc Phật học đường TÂY THIÊN-HUẾ.

Năm 1934, Ngài làm Trú trì Quốc tự THÁNH DUYÊN (Túy Vân, Huế), một trong ba Quốc tự lớn tại Thừa Thiên (Linh Mục, Thánh Duyên, Diệu Đế).

Năm 1936, Triều đình phong chức Ngài làm TĂNG CANG. Cùng năm đó, Tạp chí VIÊN ÂM, phương tiện hoằng pháp cua Phật Giáo, do Ngài và Hòa Thượng GIÁC TIÊN Chứng minh.

Năm 1937, do ủy nhiệm của các vị Tôn đức Thiền gia, Ngài nhận chức Trú trì Tổ đình THUYỀN TÔN (Thừa Thiên). Tổ đình này, thuọc phái LÂM TẾ, do Tổ LIỄU QUÁN khai sơn vào khoảng năm thứ IV niên hiệu Vĩnh Thịnh (1708). Ngài là đời thứ VIII, dòng THIỀN LIỄU QUÁN.

Năm 1956, Ngài được Giáo hội Phật Giáo Trung phần cung thỉnh vào chức vụ Viện trưởng Phật học viện HẢI ĐỨC – Nha Trang (Cơ quan đào tạo Tăng tài của Phật Giáo Trung phần.

Năm 1958-1962, Ngài liên tiếp đảm nhận chức Chánh Hội trưởng TỒNG TRỊ SỰ HỘI PHẬT GIÁO TRUNG PHẦN trong suốt 4 niên khóa. Trong thời gian này, với tuổi trên 80, Ngài vẫn chu toàn nhiệm vụ, kinh lý, nhiều lần đến các Hội Phật Giáo khắp nơi ở Cao nguyên và Trung nguyên.

Xúc động hơn nữa, cũng chính Ngài, năm 88 tuổi, sức yếu thân gầy, trong tay chiếc gậy trúc, Ngài không từ nan, quyết một lòng hy sinh vì Đạo, đích thân dẫn đầu cuộc biểu tình của Tăng tín đồ Phật giáo Thừa Thiên Huế, mở đầu phong trào vận động đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng Tôn giáo vào chiều ngày 14 tháng 4 năm 1963 (Quý Mão). Trong công cuộc vận động và đấu tranh, Ngài đã không ngừng chung lưng đấu cật, xẻ đắng chia cay cùng với phong trào cho đến ngày thành tựu mỹ mãn.

Một công việc Hoằng pháp trọng yếu hơn nữa, Ngài đã nhiều lần làm Đàn đầu Hòa Thượng truyền giới cho đồ chúng xuất gia tại gia qua các Đại Giới Đàn: Giới Đàn HỘ QUỐC tại Phật học viện Trung phần, Chùa Hải Đức, Nha Trang (1956), Giới Đàn VẠN HẠNH tại Chùa Từ Hiếu, Huế (1965), Giới Đàn VĨNH GIA tại Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng (1970).

Môn đồ của Ngài không nhiều, người còn kẻ mất, đều đã góp công làm nên lịch sử Phật Giáo hiện đại, và hầu hết là những cấp lãnh đạo của Giáo hội từ Trung ương đến các Miền, Tỉnh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, như Thượng Tọa THIỆN SIÊU, Thượng Tọa THIỆN MINH, Thượng Tọa THIỆN BÌNH …

Trang trải đã quá nửa đời người, nghịch cảnh, chướng ngại vẫn còn bủa vây Giáo hội cùng dân tộc. Tuy nhiên, nhất thâm nhật hậu, với bản chất cố hữu “Vô ngôn bất động” của Ngài qua Giới, Định, Tuệ, đã tạo nên một sức mạnh nội tại phi thường như để tiếp sức cho những đứa con tinh thần, đang trên đường làm sứ mệnh Phật giáo Việt Nam.

Rồi tin ngưng bắn được loan đi vào ngày 28/01/1973, đất nước rẽ sang một giai đoạn mới, từ đó, Giáo hội cũng bắt đầu đối mặt với một hoàn cảnh khá phức tạp … Không bao lâu, sau Đức Tăng Thống của Giáo hội thị tịch (1973) – Sinh hoạt của Giáo hội trở nên chông chênh không người lèo lái.

Trước hoàn cảnh đó, Ngài đã nhận chức vụ Đệ nhị Tăng Thống do Đại hội Phật giáo kỳ V suy tôn vào ngày 10 tháng 12 năm 1973, trong Chí nguyện Thiệu Long Tam Bảo, để kế tục lãnh đạo Giáo hội. Đây là chức vụ vừa tối cao, và cũng là cuối cùng của đời Ngài.

VẬN ĐỘNG HÒA BÌNH CHẤM DỨT CHIẾN TRANH:

Sau ngày tân nhiệm, chiến tranh vẫn tiếp diễn khốc liệt, gieo rắc chết chóc tang thương trên khắp đất nước, nền hòa binh dân tộc đang là bóng dáng mù khơi. Ngài đã và đang chứng kiến những chiến tích được dệt bằng máu và nước mắt của không ai khác hơn là dân tộc Việt Nam nói chung và quần chúng Phật tử nói riêng. Ngài đã đau khổ nổi khổ đau của chúng sinh. Cho nên, ngoài sứ mệnh lãnh đạo Giáo hội đi đúng con đường Chánh pháp, Ngài vẫn hằng quan tâm đến vấn đề hòa bình đất nước và sự an lạc của toàn dân. Niềm suy tư và ước vọng này của Ngài, đã được thể hiện qua các THÔNG ĐIỆP kêu gọi ý thức trách nhiệm của mỗi người để dập tắt chiến tranh, đem lại hòa bình cho đất nước và sự an lạc nghiệp cho toàn dân.

Sau ngày nước nhà được hòa bình thống nhất, sự nghiệp lãnh đạo Giáo hội và nhiếp hóa chúng sinh của Ngài lúc này là huấn dụ Tăng Ni tinh tấn nghiêm trì Giới luật, Ngài dạy: “Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ”. Ngài cũng khuyên Tăng Ni hãy sống nếp sống phạm hạnh, theo tinh thần BÁCH TRƯỢNG THANH QUY. Ngài dạy: “Tôi nay đã già rồi, hơn trăm năm qua, tôi đã sống và đã chứng kiến bao đổi thay của đất nước thân yêu. Tôi thấy không có gì hơn là sống nếp sống phạm hạnh. Cho nên, tôi chỉ mong hàng Phật tử xuất gia hãy sống hoan hỷ trong nếp sống phạm hạnh, gìn giữ Giới-Định-Tuệ để hành đạo, giúp Đời … Với hàng Phật tử tại gia, hãy tu tâm dưõng đức, biết thương yêu mọi người, làm tròn trách nhiệm của mình đối với Đạo, với Đời để cùng nhau phát huy tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ của Đạo Phật và xây dựng một nước Việt Nam vinh quang giàu mạnh”. (Thông điệp Phật Đản 2522) (1978).

NHIẾP HÓA ĐỒ CHÚNG:

Mặc dầu công việc đối ngoại của Giáo hội đa đoan và phức tạp, Ngài vẫn không xao lãng việc Nhiếp hóa đồ chúng. Ngài từng huấn dụ Tăng Ni: “Đạo Phật tồn tại, không chỉ ở những hình thức Chùa Tháp, Lễ nghi, Kinh điển. Mặc dù Kinh điển là chỉ nam hướng dẫn ta đến đạo quả vô thượng Bồ đề, nhưng sự tồn tại đích thực chính là ở sự thể hiện Đạo phong. Những nếp sống gương mẫu của các bậc Tăng già nghiêm trì giới luật và biết tận lực phục vụ Chánh pháp, để Chánh pháp mãi mãi tồn tại với thế gian và làm lợi ích chúng sinh …” (Thư gửi Tăng Ni, nhân mùa An cư 1976).

Thật vậy, mặc dầu đã 102 tuổi, nhưng nơi Ngài không hề thấy có triệu chứng thông thường của những bậc luống tuổi. Pháp thể tuy có gầy ốm nhưng Ngài vẫn đi đứng bình thường. Dáng đi mạnh mẽ khoan thai, oai nghiêm đỉnh đạc, không phiền người dìu dắt, không hề nắm gậy, ngồi hàng giờ lưng không biết đau, gối không biết mỏi. Mắt không mờ, tai không lãng, nói năng rõ ràng không hề lẫn lộn và trí tuệ minh mẫn một cách lạ thường.

Mắt mờ, tai lãng, gối mỏi, lưng đau, nói năng lẫn lộn, trí nhớ mất đi và đi đâu cũng phải chống gậy, đó là những triệu chứng thường tình, có ở nơi các bậc luống tuổi. Nhưng ở Ngài thì không. Phải chăng nhờ công hạnh tu trì của Ngài đã làm thay đổi được những triệu chứng thường tình cua thế nhân. Ngần ấy đức tánh đặc hữu nơi Ngài, đủ làm chúng ta kính phục và tăng trưởng đạo tâm.

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG:

Trong dịp đầu Xuân Kỷ Mùi khi Hòa Thượng Đôn Hậu, Chánh thư ký Viện Tăng Thống và quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại đức trong Giáo hội Thừa Thiên đến Tổ đình Thiền Tôn đãnh lễ và Chúc Thọ đầu năm (04/01 Kỷ Mùi). Hôm đó trời trở lạnh, Ngài đang nghỉ, Hòa Thượng Đôn Hậu và Ban Đại diện Giáo hội vào tận chỗ nghỉ. Ngài hỏi bằng một giọng nhẹ nhàng và vô cùng cảm mến: “Ai đó?”. Sau khi được trình lại, Ngài sửa soạn định ngồi dậy, Hòa Thượng Đôn Hậu: “Xin thỉnh Ông cứ nằm, cho phép chúng con được đãnh lễ chúc Thọ đầu năm”. Ngài dạy: “Để tôi ngồi dậy một tý với các Thầy, nằm ri e không phải lễ với các Thầy chừ”. Đoạn Ngài ngồi dậy nhìn quanh rồi hỏi: “Thầy Đức Tâm mô, sao không vào cho tôi thăm với?”. Hôm đó Thầy Đức Tâm, phó Đại diện Giáo hội Tỉnh Thừa Thiên-Huế bị bệnh, không đi được). Ngần ấy lời lẽ, đủ thấy Ngài sáng suốt đến chừng nào.

Sau lễ Chúc Thọ, như một vị Bồ Tát “Dự tri thời chí”, linh cảm trước được sự ra về vĩnh viễn của mình, Ngài ân cần dạy bảo những lời đầu năm vô cùng xúc động: “Tôi nay tuổi đã già rồi. Tôi thấy sức khỏe tôi kém nhiều. Chưa biết chừng sự chết sẽ đến nay mai. Nay, nhân dịp đầu năm, Hòa Thượng và các Thầy đến thăm tôi, tôi xin cám ơn và xin cầu Phật gia hộ Hòa Thượng và các Thầy nhiều sức khỏe, cố gắng kiên nhẫn trước mọi nghịch cảnh, để phục vụ Giáo hội, dìu dắt Tăng Ni Tín đồ tu niệm. Tôi thật không có gì vui hơn”.

Ngờ đâu, lời huấn thị đầu Xuân và cũng là lời Di giáo tối hậu của Đức TĂNG THỐNG. Chỉ vỏn vẹn một ngày sau, và cũng chỉ sau vài giờ pháp thể khiếm an, Ngài dạy: “VÔ THƯỜNG THỊ THƯỜNG” rồi an nhiên xã báo thân vào hồi 6 giờ 30 ngày 06 tháng Giêng Kỷ Mùi, 01/02/1979. Ngài hưởng thọ 102 tuổi đời, 84 Hạ Lạp. Bảo Tháp của Ngài hiện tôn trí tại khuôn viên Tổ Đình Thiền Tôn Huế.

Ngài ra đi, để lại mối cảm hoài vô hạn trong lòng mọi người con Phật …
 

NGƯỜI VỀ CÕI TỊNH

Trời Việt Nam như nhỏ lệ u buồn, đất Thần kinh như chìm trong biển lặng, từng trái tim như giá buốt, cảnh vật và lòng người như se thắt và quyện lại, để tiễn đưa Người về vĩnh cửu vô biên.
Vì, Người đã đến, đến để góp mặt với cuộc đời hơn thế kỷ, mượn Ái tử làm nơi cố lý để hóa thân, từ đó trưởng thành và mang trong lòng người Thượng sĩ một cái nguyện xuất trần vân du đỉnh giác.
Trên bước đường tầm Đạo. Người đã chọn Huế đô Thiên địa để liễu ngộ đạo châu, rồi từ đó truyền thừa Phật pháp, làm ngọn đăng giác chiếu thuyền đời.
Trên bước đường du hóa, dù muôn sự khó khăn Người đã không từ, mà lại còn nhận lãnh tất cả mọi sự khó khăn để tác thành và thăng hóa cho người trên bước đường đạo hạnh. Từ  AN NAM PHẬT HỌC HỘI, VIÊN ÂM cho đến HẢI TRIỀU ÂM rồi Trú trì Thánh Duyên Quốc Tự ... Đạo phong của Người đã sáng ngời như vần trăng lặng. Người như dòng suối hồ thu không còn gợn sóng, giác chiếu viên minh giữa dòng đời vẫn đục. Nên Tổ TÂM TỊNH đã ấn chứng cho Người trong buổi đầu Thọ Pháp. Được, mất, sinh, diệt là pháp đối đãi của đời đâu có bận tậm gì đến Thích giả! Người vẫn giữ một Đạo phong an nhiên giác tỉnh, không hề hệ lụy bởi sự chuyển biến của dòng đời. Trái lại, sự an nhiên đó, là diệu dụng chuyển hóa cảnh vật theo tâm Thiền giả.
Sau những chuỗi ngày vân du hóa độ, sương thời gian đã thấm vương áo nâu người Đạo sĩ, chiếc Cà sa ngày ấy đã bạc màu qua vạn nẽo đường, non Thiên Thai nơi an nghỉ với tuổi Thiền ngoại chín tuần dư. Nhưng nào ngờ giờ vô thường lại mang thân giả huyển trở về với tứ đại.
Người đã ra đi như cánh nhạn giữa phương trời tìm đâu ra dấu vết, non Thiên Thai sờ sững tiễn đưa người, nước sầu mây thảm chẳng buồn trôi. Thuyền Tôn tự còn đâu những buổi chiều, khi ánh nắng về đây còn vương lại, lách mình qua kẻ lá, để trộm nhìn dáng dấp Thiền sư trong giây phút trầm tư mặc tưởng, hay chống gậy thênh thang đi giữa rừng Thiền! Loài muông thú đâu còn đi tâm sự, gởi gắm lòng mình, mong bực Thiền nhân đưa tay thọ ký!
Bóng dáng Người từ đây vắng bặt, nhưng đạo hạnh cao cả của Người vẫn còn mãi với thời gian vô tận, dư âm của Người vẫn còn vang vọng như tiếng HẢI TRIỀU, để tỉnh thức đàn hậu sinh liễu giác thân tâm, “Nhân nhân tự tảo môn tiền tuyết” âu đó không phải là “Công án thoại đầu” đưa Người về đối diện tự thân, giác chiếu tự tâm, để rồi dấn thân trong cuộc hóa độ? Và, âu đó cũng là một bài thuyết pháp lớn cho cuộc đời?
Giờ đây non Thiên Thai, Người đã để lại báo thân ngủ vùi trong Bảo Tháp, làm một chứng cứ kỷ vật công hạnh cua đời Người trong những ngày tại thế, để sách tấn đàn hậu sinh tu thân dưỡng đức trên giữa vườn đời sanh diệt, làm một đóa hoa bất hoại thơm ngất mọi thời gian.
Cảm niệm sự ra đi của Người là cảm niệm đạo hạnh cao cả của Người cho mỗi lòng ta.
Bao lâu cuộc đời còn băng giá, ánh sáng của Người vẫn còn hiện thực.
THÁI HÒA.

 

ĐIẾU TỪ

Hòa Thượng Viện Trưởng VIỆN HÓA ĐẠO
Cung tuyên trong lễ NHẬP THÁP
15.01. ÂL – 11.02.1979 tại Huế

Nam Mô Thiên Thai Sơn, Liễu Quán Pháp phái, Thuyền Tôn Tổ Đình, Lâm Tế nguyên phái, Tứ thập nhị thế, Sung Việt Nam Phật Giáo Thống nhất Giáo hội TĂNG THỐNG đại bảo vị, thượng GIÁC hạ NHIÊN Tôn giả Sư tọa tiền tác đại chứng minh.
Kính bạch Đức TĂNG THỐNG,
Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất ra đời với sứ mạng thừa kế sự nghiệp truyền trì Đạo giáo cao cả của Đức Bổn sư Từ phụ THÍCH CA MÂU NI mà liệt Tổ truyền giáo đã dày công xây dựng trên giải đất Việt Nam thân yêu này, với một cơ đồ vững chắc tốt đẹp hơn hai ngàn năm lịch sử. Chưa có một đạo giáo, học thuyết nào trong quá khứ đã có một ảnh hưởng, một thọ mạng, một địa vị hơn thế được đối với xứ sở này. Thật vậy, lịch sử truyền giáo của Phật Giáo Việt Nam là một lịch sử gắn liền với lịch sử giữ nước dựng nước của dân tộc Việt Nam. Điều đó không ai phủ nhận được và cũng không có tổ chức nào trong quá khứ có trang sử vẻ vang trọn vẹn như vậy, đối với xứ sở. Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là hậu thân, là miêu duệ xứng đáng của Giáo hội và liệt Tổ tiền nhiệm của Phật Giáo cho dân tộc Việt Nam.
Kính bạch Đức TĂNG THỐNG,
Hôm nay giờ này, trước Linh đài (trước Bảo Tháp trước hình ảnh uy nghiêm Đức TĂNG THỐNG  và trước cộng đồng Tăng Tín đồ Giáo hội, Giáo hội chúng con đê đầu đãnh lễ liệt Tổ quá khứ để xin mạo muội gợi lại vài nét vàng son của Phật Giáo Việt Nam, đồng thời chí thành khể thủ trước Đức TĂNG THỐNG xin giác linh Ngài cho phép chúng con bày tỏ nổi lòng tôn thờ, kính yêu chí thành tha thiết của chúng con đối với đức hạnh cao cả và công nghiệp lãnh đạo sáng suốt trong nhiệm vụ thiêng liêng của Đức TĂNG THỐNG đối với Giáo hội, với toàn thể Tăng tín đồ Phật Giáo Việt Nam.
Kính bạch Đức TĂNG THỐNG,
Đức TĂNG THỐNG đã ra đời trong thế kỷ trước, một thế kỷ suy tàn biến động và mất nước và Ngài đã vào Đạo trong thế kỷ này, trong một Tôn giáo tuy lớn lao nhưng cũng cùng số phận tủi nhục hẩm hiu chung của dân tộc. Với hoàn cảnh lúc bấy giờ khó mà có thể giúp được gì cho một công dân, một tu sĩ như Đức TĂNG THỐNG để có cơ hội tiến lên xây dựng sự nghiệp cho bản thân, cho Dân tộc và cho Đạo pháp, nhưng Đức TĂNG THỐNG đã không tầm thường. Với ý chí và khả năng riêng, Ngài đã cùng các Thiện hữu Tri thức khác, được đào tạo và trưởng thành một cách đáng kính phục trong các Thiền lâm tôn nghiêm cổ kính của Giáo hội. Đặc biệt với giới đức, Ngài được đào tạo đến nổi Thân, Miệng, Ý hoàn toàn đồng hóa với giới pháp. Chính giới đức này đã và mãi mãi là hào quang và Cam Lồ soi sáng và làm tươi mát cho Phật Giáo, cho cả thế giới Phật Giáo đang sống, Thật vậy, giới hạnh Đức TĂNG THỐNG đã giữ Đạo dựng Đạo bằng cách tuân giữ huấn thị sau đây của Đức Phật, tuân giữ suốt một đời bằng một thế kỷ của mình: “Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ”. Đức TĂNG THỐNG đã đóng góp lớn lao cho Phật Giáo, cho thế giới Phật Giáo đang sống chính là Giới pháp hiện thực ấy.
Đối vời Đời: Đức TĂNG THỐNG cũng đã giúp cho xứ sở, cho mọi người trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nhất là thời kỳ Đức TĂNG THỐNG tại vị, đã lãnh đạo Giáo hội qua hai thời kỳ lịch sử đặc biệt của đất nước, đi đúng đường lối và truyền thống của lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Đức TĂNG THỐNG đã ý thức và hành động phản ảnh qua các Thông điệp Phật đản sau ngày đất nước hòa bình thống nhất: Đức TĂNG THỐNG đã kêu gọi Tăng Ni và Phật tử đoàn kết để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lời kêu gọi ấy tuy đơn giản nhưng đã ảnh hưởng sâu xa và lâu dài đối với quảng đại quần chúng trong công cuộc kiến thiết xứ sở. Đó là một đóng góp nữa của Đức TĂNG THỐNG cho Đời, qua tư thế và trách nhiệm tôn giáo của Đức TĂNG THỐNG.
Với ngần ấy tinh thần, ngần ấy công đức mà chúng con vừa đê đầu trình lên còn lắm thiếu sót, lắm vụng về nhưng cũng đã nói lên phần nào lòng ngưỡng mộ thiết tha của chúng con đối với Đức TĂNG THỐNG. Dĩ nhiên điều đó đã xúc phạm đến cá tính của Đức TĂNG THỐNG, nhưng chắc chắn Đức TĂNG THỐNG sẽ tha thứ cho chúng con, như Ngài đã tha thứ từ lâu như vậy.
Kính bạch Đức TĂNG THỐNG,
Sau hơn một thế kỷ thác tích nơi cõi đời đầy khó khăn đau khổ và bất trắc, hôm nay Đức TĂNG THỐNG ra đi theo thệ nguyện: “Khứ lai tự tại” chúng con và tất cả tứ chúng của Giáo hội không khỏi đau buồn khi thấy Ca sa Đức TĂNG THỐNG để lại đã in bóng trăng mờ, Tích trượng Đức TĂNG THỐNG để lại, đã thấm màu sương lạnh! Từ nay, ngọn đèn thiền chất chong suốt canh dài, nhưng pháp tướng cao cả oai nghi, nằm, ngồi, đi, lại sau giờ tham thì còn đâu nữa! Từ nay ánh trăng khuya lồng bóng kinh song lạnh lão thì vẫn còn đó, nhưng còn đâu người hành giả thường trầm tư mặc tưởng với Công án và Thoại đầu vi diệu của Thiền tôn! Từ này tìm đâu ra dáng dấp siêu trần của người truyền giáo cao cả trên bước đường Hoằng pháp độ sinh đây đó của vị Đạo sư khả kính! Từ nay, những đứa con thơ dại đang ăn nhằm trái đắng, uống lỡ thuốc cay trong lúc lão phụ đang đi về một phương trời xa xôi đâu rồi! Thật không có gì rủi ro, đau buồn và bất hạnh hơn cho đàn con đó! Chúng con chỉ mong Đức TĂNG THỐNG y theo đại nguyện hội nhập Ta bà, hãy thương chúng con, hãy quay lại, nhìn lại chúng con.
Giờ này Đức TĂNG THỐNG không còn nữa, Giáo hội mất đi một vị Đại Đạo sư tối tôn chí kính, tứ chúng mất đi một vị Cha lành phước trí vẹn toàn. Tổ đinh Thuyền Tôn mất đi một cao túc truyền đăng xứng đáng nhất của LIỄU QUÁN Tổ sư. Thật vậy, không ai không xúc động và ngậm ngùi trước cảnh “Sơn tồi hà yểm” của nhân thế thường tình. Ôi bao nhiêu mất mát, bao nhiêu thiệt thòi! Nhưng chúng con biết làm gì hơn để giữ mãi cho Giáo hội, cho chúng con một mảnh trăng tròn cuối tháng, một mùa Xuân sau chín chục ngày! Chúng con làm sao giữ được một giọt nước Cam lồ, một đóa hoa Ưu đàm yêu quý còn mãi với chúng con! Ôi Trăng, mờ, Xuân mãn, hoa Ưu đàm yêu quý còn mãi với chúng con! Ôi Trăng mờ, Xuân mãn, nước chảy, hoa tàn, luật biến thiên bất tận muôn đời không riêng gì ai cả! Chúng con chỉ còn lại nơi chúng con một niềm đau buồn vô hạn sau ngày Đức TĂNG THỐNG ra đi không hẹn ngày về! Tuy nhiên, chúng con nghĩ rằng: Chư PHẬT ra đời vì hạnh nguyện độ sinh, khi nhơn duyên đã mãn Chư PHẬT  đã thị hiện Niết Bàn. Đức TĂNG THỐNG cũng đã đến đây và ra đi cũng cùng hạnh nguyện ấy của một vị Bồ Tát: Đức TĂNG THỐNG để lại chúng con đã và sẽ lấy đó làm lẽ sống cho Giáo hội cho chúng con. Chúng con nhất tâm đoàn kết để giữ gìn đường lối chỉ đạo nhất là các lời giáo huấn cuối cùng của Đức TĂNG THỐNG để kế tục sự nghiệp giữa Đạo dựng Đạo, giữ Nước dựng Nước để lịch sử Phật Giáo Việt Nam trong sáng muôn đời, và những thệ nguyện chân thành thiết tha ấy mới mong đền đáp được phần nào ân pháp nhủ vô biên của Đức TĂNG THỐNG đã giáo dưỡng chúng con trong tinh thần đạo giáo cao quý của Đức Bổn sư Từ phụ.
Chúng con cầu nguyện: “Nhất tâm lãnh thọ, y giáo phụng hành” (Điệp xương và hòa chúng đồng thanh) và trong giờ phút trang nghiêm cuối cùng này, chúng con đồng lắng lòng bùi ngùi đưa linh giác Đức TĂNG THỐNG nhẹ nhàng lên vân lộ xa xuôi đi vào chốn bất sanh bất diệt của Niết Bàn và đưa nhục thân Đức TĂNG THỐNG vào Bảo Tháo vô tung nơi an nghỉ nghìn thu của trần thế.
Chúng con đồng thành tâm phục nguyện: Linh minh nhất tánh, trực vãng Tây phương. Diệu tịnh tam ma, tốc thành Chánh giác, chứng vô sanh chi pháp nhẫn, nhập đại định ư chơn thừa, nguyện chư Phật từ bi thọ ký, mong Đức TĂNG THỐNG sớm trở lại độ sinh.
Nam mô Tự Lâm Tế Chánh tôn Thiền Tôn pháp phái tứ thập nhị thế, sung Việt Nam Phật Giáo Thống nhất Giáo hội TĂNG THỐNG bảo vị húy GIÁC NHIÊN Đại Lão Hòa Thượng liên tọa tiền tác đại chứng minh, thùy từ gia hộ, (Điệp xướng và đồng hòa) tác đại chứng minh, thùy từ gia hộ.

Tác giả bài viết: Môn đồ pháp quyến

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

LIÊN KẾT


   
   
 
TIN MỚI
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây