1
CHÀO MỪNG ANH CHỊ EM LAM VIÊN GHÉ THĂM TRANG NHÀ LAM THÀNH CỔ - QUẢNG TRỊ

Hòa thượng Hưng Mãn (1901 – 1964)

Đăng lúc: Thứ ba - 18/12/2018 10:20 - Người đăng bài viết: Ban Biên Tập
Hòa thượng thế danh là Đỗ Thông ( tức Đỗ Trọng Tường ) sinh năm Nhâm Dần (1901) và mất ngày 21 tháng 6 năm Giáp Thìn (1964). Quê ở Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ngài sinh ra trong một gia đình nho giáo, kính tín Tam bảo. Thân phụ là cụ ông Đỗ Cận và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Cầm, cả hai đều cùng quê ở Quảng Trị.
Hòa thượng Hưng Mãn (1901 – 1964)

Hòa thượng Hưng Mãn (1901 – 1964)

Hòa thượng được song thân cho đầu sư với Hồ thượng Tâm Khoan bấy giờ là Trú trì chùa Báo Quốc, Kim Tiên, Thuyền Tôn và Quốc tự Diệu Đế.
Năm 22 tuổi được Bổn sư cho thọ giới và sau đó được Bổn sư sai về làm làm Trú trì chùa Kim Tiên. Khi nhậm chức Trú trì ngài đã ra sức sùng hưng Kim Tiên lại. Cuộc sống lúc ấy khó khăn, cả thầy và trò phải trồng rau, cây trái quanh vườn để đem xuống chợ Bến Ngự bán đổi lấy thực phẩm về độ nhật. Trong chùa có vườn Nhãn, đến mùa đem bán để tu bổ chùa. Chùa thời bấy giờ không có Đại Hồng Chung. Trong cảnh thiếu thốn trăm bề nhưng ngài vẫn lạc quan, chuyên tu Tịnh độ, siêng năng hành trì giới luật nên được Phật tử và Pháp lữ thương kính.
   Ngài luôn luôn chia sẻ với Phật tử quanh vùng về tín ngưỡng tâm linh. Có chuyện gì ngồi xóm quanh ngõ là có mặt ngài ngay, vì thế nên được bổn đạo và nhân dân quí mến.
   Với đồng đạo, ngài luôn lui tới vấn an, trao đổi Phật pháp để học hỏi thêm. Với Sơn môn, ngài luôn luôn tuân thủ sự phân chia Phật sự được giao. Khi nào rảnh rỗi, ngài đến các đạo tràng Tây Thiên, Thiên Hưng, Báo Quốc… để nghe giảng. Đến mùa An cư, ngài mang y bát xuống Báo Quốc xin nhập chúng An cư. Xong An cư ngài trở về chùa sống đời tu hành phạm hạnh, đạm bạc và tri túc trong cuộc sống.
   Một thời gian sau, do cuộc sống đạm bạc và bệnh tật, sức khoẻ giảm sút nên đến ngày 21 tháng 6 năm Giáp Thìn (1964), sau cơn bệnh nhẹ, ngài đã xả báo thân ở tuổi 64 và 41 năm trong đạo.
  
Tưởng niệm
   Thương tiếc ngài, các Pháp lữ trong Sơn môn đã truy tặng ngài các văn thơ:
1. Hòa thượng Trí Thủ tặng.
Thầy đã chết rồi ư! Man mác hồn quê ẩn hiện
Tôi còn sống sót lại! Mênh mông bể nguyện lệ đầy vơi.
                                                               Thích Trí Thủ cung chí
2. Cảm hồi của Trúc Diệp
Đơn sơ thanh đạm có gì đâu
Giếng cổ chùa tiên cảnh nhiệm mầu
Bia sử chép ghi công giới hạnh
Tháp mồ trùm chứa đức dày lâu
Đỗ môn Bích lý cây cành gãy
Đạo chủng thuyền lâm cội rễ sâu
Quả thấu nhơn tròn sen chín phẩm
Trăng vàng sáng tỏ giữa đêm thâu.
3. Hòa thượng Chân Đạo Chánh Thống tán
1.   Xuân về theo hướng đến tương tri
      Đa tạ ân cần thết rượu chi
      Bóng rán cung ly nay đã hiểu
      Hại gì châm chước hãy tuỳ nghi
 2.  Quá nhiều lăn lộn để làm chi
       Một niệm trong đời thử tách đi
       Sắc sắc không không đều thế cả
       Mày râu toạ chủ thẹn rơi đi.
 3.   Hết thẩy đều không, đâu nhắm nơi
       Lá vàng đưa lay muốn lừa ai
       Ba thưà hiểu rỏ việc tồn rỗi
       Trăm thú cùng ghê sư tử oai.
Hiện Tháp của ngài được lưu giữ tại khu vườn chùa Kim Tiên - Huế.
 


Nguồn tin: http://vnbet.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
1

LIÊN KẾT LAM


   
 
 
 
 
 

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 45
  • Hôm nay: 1316
  • Tháng hiện tại: 16971
  • Tổng lượt truy cập: 4067968