1
CHÀO MỪNG ANH CHỊ EM LAM VIÊN GHÉ THĂM TRANG NHÀ LAM THÀNH CỔ - QUẢNG TRỊ

BÌNH ĐẲNG NỮ GIỚI TRONG GIÁO PHÁP ĐỨC PHẬT

Đăng lúc: Thứ hai - 21/09/2015 00:54 - Người đăng bài viết: Ban Biên Tập
San bằng quyền lợi là buộc mọi người chỉ nhận được một số quyền lợi giống nhau, dù họ bỏ ra công sức khác nhau và mặc dù đem lại hiệu quả khác nhau. "quyền bình đẳng căn bản của nhân loại như là một cộng đồng với ý nghĩa rằng những bản chất căn bản của con người là giống nhau, cho dù có thể có sự khác nhau do di truyền, môi trường hay những yếu tố nghiệp."
BÌNH ĐẲNG NỮ GIỚI TRONG GIÁO PHÁP ĐỨC PHẬT

BÌNH ĐẲNG NỮ GIỚI TRONG GIÁO PHÁP ĐỨC PHẬT

Trong cuộc sống, không chỉ là loài người, mà tất cả chúng sanh, đến tận loài côn trùng nhỏ bé nhất, đều muốn có được hạnh phúc, con người luôn tìm kiếm, mưu cầu hạnh phúc. Nhưng không ai hiểu rằng, cuộc sống hạnh phúc đơn giản đến từ những hành động căn bản, gần gũi nhất, không cần tìm kiếm đâu xa, mà trở lại với chính mình, bỏ đi hai chử “tôi muốn” thì còn lại hai chử hạnh phúc “Ðừng tin vào những gì mà mình chỉ nghe nói lại, hay vì đó là tập quán lâu đời, hoặc là nghe rao truyền, hoặc thấy trong kinh điển, hoặc vì đó là bài luận giải rất hay; hãy tự mình suy nghĩ những gì mình nghe được, biết được đây là những điều xấu, có hại, bị chê trách bởi những bậc hiền triết; đây là những điều gây đau khổ cho người, thì lập tức chúng ta từ bỏ chúng. Khi mà chúng ta biết, đây là những điều có lợi ích, đem đến hạnh phúc thì hãy thi hành và thực tập."[1] Trong bối cảnh Ấn Độ của các trào lưu tư tưởng trước Đức Phật ra đời khá phức tạp, có những học phái có thế lực vô cùng to lớn, tư tưởng chính trị quá ư khắc nghiệt, nói chung không công bằng trong xã hội. Đặc biệt là nữ giới thời bấy giờ được coi như một người nô lệ, không có địa vị gì trong xã hội, Người phụ nữ bị khinh rẻ và chỉ là những món đồ tiêu khiển của đàn ông thuộc giới quyền quý. Sự bắt cóc, cưỡng ép, cũng như sự buôn bán phụ nữ, thiếu nữ, thường xuyên xảy ra. Trong đời sống thường nhựt, người phụ nữ phải chịu khá nhiều thiệt thòi, họ không được ra khỏi nhà mà không che mặt, không có quyền trong các hoạt động xã hội, không có mặt trong lãnh vực tôn giáo vv. Những ngày vô tận của họ chỉ là để chờ đợi trong thầm lặng sự viếng thăm của người đàn ông, cho đến khi người này chết thì phải chịu sự thiêu sống để đi theo người đã chết (tục lệ Sati) Sự đau khổ, sự bất công đang tràn ngập khắp các nẻo đường, khắp các phố phường thành thị, ai là người dắt lối đưa đường.
Trong khung cảnh ấy, nền giáo lý đạo Phật ra đời như một luồng gió mới, một cuộc cách mạng giải phóng con người ra khỏi tình trạng bất công hà khắc về giai cấp xã hội, thoát khỏi ngục tù nô lệ tư tưởng,  Một điểm khác biệt nữa ở mặt hiện tượng xã hội rất dễ nhận thấy, đó là Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Bình đẳng không chỉ thể hiện trong việc giao tiếp xã hội mà còn thể hiện trong tâm của mỗi người. Cho nên nói Bình Đẳng Nữ Giới Trong Giáo Pháp Đức Phật đây là đề tài thật khá phong phú, mức ảnh hưởng của Đạo Phật đối với xã hội từ xưa cho đến nay, một vị trí nhất định có giá trị tương ứng trong bậc thang xã hội, phản ảnh thế lực và quyền lợi mà cá nhân đó được hưởng. Khi nhận chân được những giới hạn này, Phật giáo trước nhất là nhìn vấn đề bình đẳng căn bản giữa con người với con người trong phương diện bản chất thật, đặc biệt là người nữ trong mọi thời đại,
Tuy nhiên, việc nghiên cứu giá trị bình đằng trên cái nhìn Phật giáo lại có tính đặc thù hơn. Từ cổ đại đến hiện đại trong thực tiễn, một sự kiện một khái niệm luôn có “đời sống riêng”. Vì đây là tinh hoa của một đời sống văn minh trên thế giới. Kế thừa những di sản những nhà nghiên cứu trước. Đặc biệt ở đây chỉ giới thiệu qua những điểm nhỏ để ghi nhận quyền sinh sống của nhân loại. Hơn nữa đây là bài viết đưa tôn giáo đi vào xã hội. Rất mong nhận được những lời chỉ dẫn và đóng góp ý kiến bổ sung cùa những bậc cao minh, cũng như bạn đọc, Bài viết chưa hoàn chỉnh kính mong chư vị đọc giả bổ sung, chỉnh sửa cho bài viết hoàn hảo hơn,  người viết thành kính tri ân.
 
I: Bình Đẳng Nam Nữ Trong Các Thời Đại
 Sao Gọi Là Bình Đằng:
Chủ nghĩa bình đẳng, đã trở thành nghĩa "học thuyết bình đẳng giữa loài người" và nội dung của nó chủ yếu là liên hệ đến xã hội. Bắt nguồn từ một thuật ngữ gốc Pháp, "Egalitaire" (Egal có nghĩa là ngang bằng hoặc bằng nhau), "Egalitarianism"[2]. Nếu khái niệm bình đẳng không phải là khái niệm mới trong biên niên sử nhân loại, thì nó được ghi nhận theo thời gian như là một học thuyết bình đẳng xã hội hiện nay theo nghĩa riêng của nó với sự khởi lên về những áp lực xã hội như là ý thức giai cấp, xuất phát từ cuộc cách mạng công nghiệp ở phương Tây. Ðiều quan trọng là vấn đề bình đẳng đã và đang còn bị hạn chế trong phạm vi ứng dụng thực tế. bình đẳng khác với san bằng quyền lợi. San bằng quyền lợi là buộc mọi người chỉ nhận  được một số quyền lợi giống nhau, dù họ bỏ ra công sức khác nhau và mặc dù đem lại hiệu quả khác nhau. "quyền bình đẳng căn bản của nhân loại như là một cộng đồng với ý nghĩa rằng những bản chất căn bản của con người là giống nhau, cho dù có thể có sự khác nhau do di truyền, môi trường hay những yếu tố nghiệp."[3]. Chúng ta đã bỏ ra không ít thời gian và giấy mực để bàn về chuyện bình đẳng hay không bình đẳng giữa nam và nữ. Phật giáo không chấp nhận cơ cấu giai cấp là tuyệt đối. Bởi vì bình đẳng giữa con người với con người là "phù hợp với qui luật vũ trụ, chứ không bao giờ mâu thuẫn với nó (dhammen'eva no adhammena)[4]. Bình đẳng ngụ ý ở đây là nguyên lý căn bản, nền tảng của tự nhiên. Sự phân biệt giữa hai cá nhân nào đó xuất hiện từ những nhu cầu xã hội dẫn đến sự phân biệt giai cấp hay đẳng cấp và nghề nghiệp; tuy nhiên như với tư cách là một loài động vật du hành và có trí thức, con người về căn bản là giống nhau. Trong quá trình săn bắn và thu hoạch thực phẩm, kinh tế của người nguyên thủy được chuyển hóa thành kinh tế nông nghiệp và khi xã hội được định hình, đời sống và phân biệt giai cấp đã trở thành thực tại, thì lúc ấy tất cả mọi người "giống nhau, nhưng không phải là không khác nhau." Nhà văn Võ Thị Hảo khẳng định rằng: ”Bình đẳng giới là lẽ tự nhiên, như phàm là cây cỏ thì có quyền vươn lên đón ánh mặt trời.  Bất bình đẳng giới, không chỉ gây mất cân bằng mà còn gây tai họa cho sinh thái tự nhiên và con người. Vì thế, hãy soạn thảo thật tốt và đón nhận Luật Bình đẳng giới như đón nhận một tay vịn pháp lý dành cho chính mỗi người dù bất kể gíới nào”.
 Người Phụ Nữ Cổ Đại Phương Tây
Ở phương Tây, địa vị người phụ nữ được nhào nặn trong tư tưởng Hy Lạp và La Mã và trong truyền thống đạo Do Thái. Vào khoảng thế kỷ VI trước Tây lịch, các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp xuất hiện. Với sự xuất hìện này, lầu đầu tiên loài người dám suy nghĩ độc lập dựa vào lý trí của mình, tách khỏi thần thoại và tôn giáo. Hai trong những triết gia Hy Lạp dựng nên tư tưởng phương Tây là Plato và Aristotle. Plato là một triết gia đương thời với đức Phật, sanh trong một gia đình quý tộc. Với tư tưởng tiến bộ: mong muốn xây dựng một xã hội lý tưởng căn cứ trên đạo đức chứ không phải bằng bạo lực. Ông chủ trương người phụ nữ giới thượng lưu (và chỉ trong giới thượng lưu mà thôi) phải được giáo dục và huấn luyện để lãnh đạo. Nhưng trên thực tế, tư tưởng của Aristotle thịnh hành hơn. Ông chủ trương người phụ nữ phải ‘thụ động, phục tùng và ít lời. Thế kỷ VI trước Tây lịch, tôn giáo La Tinh cũng phát triển theo hai hướng cực kỳ nhanh chóng: một hướng đi vào cuộc sống người nông dân, hướng thứ hai đi vào thành phố La Mã. Lúc bấy giờ các thần linh cũng phát triển thành những thiên thần như Jupiter vị thần cõi trời lớn nhất, Mars thiên thần của thực vật và chiến tranh, Juno vợ của Jupiter, cai quản giới phụ nữ cũng như nữ thần Hy Lạp Hera vậy, nữ thần Minerva trông coi nghệ thuật và thủ công... Như vậy, ở một phương diện nào đó, các vị nữ thần trong đời sống tư tưởng cổ truyền La Mã đã thể hiện phần nào quyền hạn và địa vị người phụ nữ trong xã hội đương thời. Nhưng, nói chung, đại đa số nữ giới La Mã vẫn bị chèn ép và bóc lột không khác gì ở phương Đông. Với sự phải cầu kinh ở nơi riêng, phải cách biệt với nơi đàn ông làm lễ, cho thấy quyền lợi của người phụ nữ trong Do Thái giáo truyền thống khó mà kiếm được một sự bình đẳng tương đương với nam giới. Từ đó ta biết, trong xã hội Phương Tây bấy giờ, người phụ nữ tuy đã có nhiều sự ưu đãi được thể hiện qua hình tượng các nữ thần, nhưng vẫn không sao tránh khỏi những thiệt thòi mất mát mà xã hội loài người đã gán cho họ.
 Người Phụ Nữ Cổ Đại Phương Đông
Đức Phật không chấp nhận bạo lực và hủy hoại sinh mạng. Ngài tuyên bố rằng không có một chiến tranh nào là chiến tranh của công lí. "Người thắng tạo căm thù, kẻ thua sống khổ sở. Người nào từ bỏ thắng và bại thì người đó sống an vui và hạnh phúc." Chẳng những Đức Phật dạy về hòa bình và bất bạo động, có lẽ Ngài cũng là vị Giáo Chủ đầu tiên và duy nhất đã ra tận chiến trường để tìm cách ngăn chận chiến tranh. Ngài đã hóa giải sự xung đột giữa bộ tộc Sakya và bộ tộc Koliya khi họ muốn khởi sự đánh nhau vì tranh chấp nước sông Rohini. Ngài cũng đã thuyết phục vua Ajatasanu bỏ ý định tấn công vương quốc của bộ tộc Vaiji. Đức Phật Thích Ca ra đời, sáng lập nên một tôn giáo bình đẳng, vị tha. Ngài đã mở ra cho nữ giới con đường giải phóng không những ra khỏi một thân phận đen tối thấp hèn, lệ thuộc vào nam giới, mà còn ra khỏi ngục tù bản ngã nhỏ hẹp để vươn lên.  
Trong suốt thời kỳ vàng son của Phật giáo Trung Hoa, cụ thể là triều Đường, nữ nhân không là một chủ đề nóng bỏng, ác liệt để tạo dấu ấn và được đánh giá như là những đề tài phụ thuộc khác. Một người nữ đã hoàn toàn thống trị Trung Hoa và duy nhất là nữ hoàng Võ Tắc Thiên, đã cố chứng tỏ sự đúng đắn sự cai trị của bà thông qua  lăng kính Phật giáo: triết lý Nho giáo đã đặt phụ nữ lệ thuộc vào nam nhân, nhưng Phật giáo thì không. Và vì vậy nữ hoàng họ Võ đã tự tuyên bố là một hoá thân của một vị bồ tát. Minh chứng qua kinh điển Phật giáo, bà đã cố chứng tỏ sự cai trị, để họ tin rằng nữ nhân có thể cai trị triều đại Trung Hoa. Bà là một nhà cai trị khôn lanh, và là một người tìm hiểu khá sâu trong giáo lý, và chính là tác giả bài khai kinh kệ: 
“Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp 
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ 
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì 
Nguyện giải Như lai chân thật nghĩa”
Võ Tắc Thiên chưa hẳn là một hành giả chân thực, nhưng bà biết rằng chỉ có một tôn giáo ở Trung Hoa ủng hộ cho quyền cai trị của bà là Phật giáo. Bà trở nên, một trong những người cai trị bị xỉ vả nhiều nhất qua nhiều thế hệ các Nho gia. Tuy vậy hơn bao giờ hết sự cai trị của bà đã chứng tỏ áp dụng hoàn toàn của giáo lý nhà Phật với sự đánh giá về phụ nữ.
Người phụ nữ thời hiện đại
 Lịch sử gia đình Việt Nam khoảng 40-50 năm trở về trước, quan hệ vợ  chồng được thiết lập trên một cái nền quan niệm về đức hạnh của người phụ nữ: Người phụ nữ phải là người  “Tam Tòng, tứ đức”: là  khi còn ở với cha mẹ thì phải phục tùng cha, khi đi lấy chồng phải phục tùng chồng và nếu chồng chết thì phải theo sự sắp đặt của con trai. Quan niệm này cho đến ngày nay vẫn còn được vận dụng,"nam nhất viết hữu, nữ thập viết vô”, khi không chỉ ở các vùng thôn quê mà ngay cả ở những nơi đô thị hằng ngày hằng giờ tiếp thu văn hóa văn minh hiện đại, vẫn còn rất nhiều người phụ nữ cả đời không dám trái ý chồng,
Giới trẻ những thập niên trở lại đây hầu như không còn chấp nhận những cuộc hôn nhân dựa trên nền quan niệm ấy nữa. Họ không chấp nhận, không phải chỉ vì những người phụ nữ đòi quyền bình đẳng, mà còn vì đàn ông cũng không muốn làm “chúa” nữa khi không muốn hoặc không thể gánh vác vai trò “trụ cột gia đình”. Phụ nữ ngày nay, có gia đình rồi vẫn được tự do với các mối quan hệ xã hội bên ngoài, tự do tìm kiếm hay đón nhận cơ hội nghề nghiệp, tự do quyết định các vấn đề tài chính; Trong thời kỳ công nghiệp hoá  hiện đại hoá đất nước càng được khẳng định một cách rõ nét hơn bao giờ hết. Bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Phụ nữ có mặt trong hầu hết các công việc và nắm giữ nhiều vị trí quan trọng. Ngày càng nhiều người trở thành chính trị gia, các nhà khoa học nổi tiếng, những nhà quản lí năng động. Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặt của người phụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, công nghiệp dịch vụ, may mặc...Đôi khi chính những người phụ nữ đã khiến cho nam giới phải “ghen tị” về những thành công mà họ đạt được. Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia đình. Là người vợ hiền, người vợ còn đưa ra những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệp của chồng. Là những người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự là những tấm gương cho con cái noi theo. Người mẹ luôn sẵn sàng hy sinh những lợi ích của bản thân với ước nguyện cho con cái trưởng thành và thành công trong cuộc sống. Trong cuộc sống thường nhật đầy khó khăn, chúng ta tìm thấy ở những người phụ nữ, những người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sự cân bằng bình yên trong cuộc sống. Chính họ đã tiếp sức cho chúng ta vượt qua những khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích. Nếu như trước đây phụ nữ là người chịu nhiều định kiến hẹp hòi của xã hội, thì ngày nay vị trí và vai trò của người phụ nữ ngày càng được nâng cao.
Người ta hay nói: đứng sau một người đàn ông thành đạt thường là hình bóng một người phụ nữ lặng lẽ. Thế còn đứng sau một người phụ nữ thành đạt là ai ? ngày nay có rất nhiều câu hỏi đặt ra cho người phụ nữ đương đại.
  II: Người Nữ Trong Giáo Đoàn Phật Giáo:
Đức Phật đã cho phép  người nữ được thọ giới tỳ kheo ni (một tu sĩ Phật giáo thực thụ) hai mươi lăm thế kỷ trước, mặc dù Ngài đã cảnh báo rằng nữ giới sẽ tiếp tục gặp những chướng ngại trong xã hội. ( 25 thế kỷ sau thì vẫn chưa một tôn giáo nào ngoài Phật giáo và Phật Tổ Thích Ca đã đặt nữ tu vào vị trí đáng tự hào như vậy.
Khi Di mẫu Ma ha Ba Xà Ba Đề ( nữ tỳ kheo đầu tiên) sắp viên tịch, Đức Phật nói rằng, "hãy chỉ cho ai đấy nghi ngờ rằng nữ nhân không thể giác ngộ, biết được sự thật". Và bà đã thi triển thần thông trên hư không, chứng minh sự giác ngộ của mình, đã làm các vị Nam trưởng lão kinh ngạc
Cũng gần đây, tại Âu Châu có Ni sư Ayya Khema (1923- 1997) cha mẹ theo đạo Do Thái. Ni sư thọ giới xuất gia ở Sri Lanka vào năm 1979 và là một trong những người tiên phong trong việc tranh đấu cho nữ giới trong tăng đoàn.Năm 1978, Ni sư thành lập thiền viện Buddha Dhamma theo truyền thống Theravada, trong một khu rừng, gần Sydney, Uc. Ni sư cũng thành lập Trung Tâm Nữ Phật Tử Quốc Tế (International Buddhist Women’s Center) và Parappuduwa Nuns’ Island, dành cho nữ Phật tử muốn tu học chuyên sâu hay muốn thọ giới xuất gia.
Vào năm 1987, Ni sư tham gia tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên cho Ni giới, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đọc bài diễn văn chủ yếu. Cũng trong năm đó, Ni sư là người đầu tiên phát biểu về Phật giáo ở Liên Hiệp Quốc. Ni sư Ayya Khema cũng là giám đốc đỡ đầu cho Buddha- Haus thành lập ở Đức, năm 1989, và năm 1996 Ni sư chứng minh cho sự thành lập Tăng đoàn của tu viện Western Forest Monastery Tradition, là tòng lâm viện Phật giáo đầu tiên ở Đức.
Như vậy, trên phương diện xã hội dù ở quốc gia nào, quyền bình đẳng nam nữ đã được thể hiện khá đặc biệt trong giáo lý Phật giáo.
Người Nữ Bình Đẳng Về Mặt Tu Tập Và Chứng Đắc Quả Vị
Đức Phật dạy rằng trong vòng sinh tử luân hồi, tùy theo nghiệp mà chúng ta thay hình đổi dạng và thay đổi cuộc sống; nếu nhanh, chúng ta thay đổi tâm niệm trong từng sát na, còn chậm thì thay đổi trong từng kiếp sống khác nhau. Điều khiến ta chú ý là vấn đề Phật cho phép nữ giới xuất gia sống đời sống phạm hạnh trong Tăng đoàn Phật giáo. Và như chúng ta biết, Tăng đoàn Phật giáo vốn dĩ có nghĩa là một tập đoàn người sống hòa hợp, bình đẳng, thanh tịnh để cùng nhau tu tập giải thoát. Như vậy, trong ý nghĩa này, hàng nữ giới xuất gia tất nhiên có quyền bình đẳng với nam giới xuất gia. Chúng ta cũng nên ghi nhận thêm rằng đức Phật đã cho phép thành lập giáo hội Tỳ kheo ni vào một thời điểm mà người nữ bị xếp vào địa vị thấp kém nhất trong xã hội. Làm điều này, đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã nâng cao vị trí của hàng phụ nữ đến mức quan trọng nhất.

 Nói về giáo phẩm, nếu bên nam giới có Hòa Thượng, Đại đức thì phía nữ có Hòa Thượng Ni, Đại đức ni.[5]
Còn nói về nhiệm vụ, nếu bên nam giới có hai vị đại đệ tử: Sàriputta (Xá Lợi Phất). Trí tuệ đệ nhất, và Moggallàna (Mục Kiền Liên) thần thông đệ nhất,quán xuyến giáo hội Tỳ kheo tăng, thì bên Nữ giới cũng có hai vị đại đệ tử: Khema và Uppalavannà đều là những vị trí tuệ vô song, thần thông vượt bực. Và nếu như nói về sở trường của chư vị đại đệ tử Phật, thì các vị nữ đệ tử Tỳ kheo ni không chút thua kém gì:
1) Trong các vị nữ đệ tử Tỳ kheo ni đã lâu ngày của Ta, tối thắng là Mahà Pajàpatì Gotamì.
2) Trong các vị ... đại trí tuệ, tối thắng là Khemà.
3) Trong các vị ... đầy đủ thần thông, tối thắng là Uppalavannà.
4) Trong các vị ... trì luật, tối thắng là Patàcàra.
5) Trong các vị ... thuyết pháp, tối thắng là Dhammadinnà.
6) Trong các vị ... tu thiền, tối thắng là Nanadà.
7) Trong các vị ... tinh cần tinh tấn, tối thắng là Sonà.
8) Trong các vị ... có thiên nhãn, tối thắng là Sakulà.
9) Trong các vị ... có thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bhaddà Kundalakesà ...’ [6]
Chúng ta cũng nên biết thêm, trong khi chế độ xã hội bấy giờ không tạo điều kiện để phát huy khả năng của người phụ nữ thì ngược lại ở trong giáo đoàn Phật giáo phụ nữ chẳng những có thể tự độ mình giải thoát mà còn có thể thuyết pháp độ sanh, đó là trường hợp của Tỳ kheo ni Pháp Lạc trong kinh Trung A Hàm IV (trang 605). Như vậy, về mặt giáo đoàn, quyền bình đẳng giành cho nữ giới cũng được thực thi trong giáo hội Phật giáo. Và hơn thế nữa, về mặt giải thoát tâm linh người phụ nữ cũng được Phật giáo tiếp nhận. Nhiều vị giáo thọ nữ đã đóng vai trò trụ cột trong Phật giáo Tây tạng và trở thành những vị nữ tổ sư như Niguma và Machig Lhadron, đã tạo ra những truyền thống vẫn lưu truyền đến ngày nay. 
Trong kinh Pháp hoa có một ví dụ về hình ảnh của Tiểu Long Nữ, đã chứng tỏ mình có thể trở nên một bậc giác ngộ ngay lập tức trước sự sửng sốt của cả Pháp hội. 
Bồ tát Tara chắc chắn là một ví dụ tuyệt hảo về quan điểm của Phật giáo đối với những nữ hành giả. Bồ tát Tara đã chứng ngộ vào thời Đức Phật Bất Không thành tựu vô lượng kiếp về trước, một nhóm tu sĩ đã gợi ý rằng, "Bây giờ ngài có thể tái sinh thành một người nam để đạt giác ngộ hoàn toàn để lợi lạc cho khắp mọi loài." Thay vì vậy, Bồ tát Tara đã nguyện luôn luôn tái sinh là một người nữ để giác ngộ và lợi lạc muôn loài. 
Vì chân lý tuyệt đối, thành quả giải thoát không dành riêng cho ai, kể cả đức Như Lai. Như khi Cundì khi ghe anh mình nói: "Nếu có người đàn bà hay đàn ông quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, người ấy sau khi thân hoại mạng chung, người ấy nhất định được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ", đã đến bạch hỏi Phật phương pháp tu tập thì được Phật giảng giải như sau:
"Dầu cho các loại hữu tình nào, này Cundì, không có chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng,Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh đẳng giác được xem là tối thượng! Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, chúng đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, chúng được quả dị thục tối thượng"[7]. Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa về vấn đề bình đẳng trên phương diện giác ngộ giải thoát của người phụ nữ. Trong Phật giáo, người nữ không những được bình đẳng trên phương diện xã hội, giáo đoàn mà còn được quyền bình đẳng trong các phương diện giải thoát tâm linh. Ðó là trường hợp của hoàng hậu Khemà đã đắc quả A la hán trước khi xuất gia, là trường hợp của Isidàsi, một người phụ nữ đau khổ có bốn đời chồng, sau khi xuất gia sống đời giải thoát đã diễn tả trong một bài thơ nỗi niềm sung sướng vì đã thoát khỏi một cách vinh quang ba điều khó chịu là "cối, chày và người chống bất chính" và cuối cùng vị này hân hoan tán thán pháp lạc tuyệt vời của người đắc quả Vô sanh:
"Tôi đã giải thoát khỏi sống và chết,
Tôi đã cắt đứt sợi dây luân hồi"[8]

Chính đức Phật đã xác định điều này khi ngài A Nan hỏi Phật: "Không biết nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, có thể chứng được quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai hay quả A la hán không?"
"Này Ananda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A la hán quả"[9]
"Này Vaccha không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỳ kheo ni, đệ tử của ta, đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát".[10]
 Những Khó Khăn Cho Người Nữ Trong Sự Tu Tập
Chúng ta cũng biết, vào thời ấy, xã hội Ấn Độ đang ở trong thời kỳ bán sơ khai, người xuất gia phải rời bỏ gia đình, sống không gia đình trong rừng rú. Người nam tu sĩ có thể tự vệ chống bọn cướp, thú dữ, rắn rết..., nhưng người tu nữ hoàn toàn không thể tự bảo vệ được mình, nên Phật đã dạy:“Tỳ kheo ni không thể an cư tại chỗ không có Tỳ kheo tăng”.Và một lý do sâu xa khác của việc chế Bát kỉnh pháp là đức Phật muốn có sự cách biệt trong hòa khí giữa Tăng bộ và Ni bộ, “ví như một người vì nghĩ đến tương lai, xây dựng bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy qua”  Nữ giới hay thiên về sự quá đà; hoặc quá thân mật thì mất sự cung kỉnh và dễ lờn, hoặc quá sơ thì dễ đi đến chỗ kiêu căng tự phụ cho rằng ta đây có thể tự lập không cần ai dắt dẫn. Do đó một điều cung kỉnh khác trong tám pháp cung kính bắt buộc Ni chúng phải thỉnh thoảng đi đến Tỳ kheo tăng để xin chỉ giáo, để luôn luôn nhớ đến địa vị khất sĩ của mình, nghĩa là phải tầm cầu Chánh pháp.
Ác ma nói rằng: Người nữ không thể làm bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, không thể làm Chuyển Luân Vương, làm Đế Thích, Ác ma, Phạm Thiên. Vì sao? Vì không đủ trí để lãnh nhiệm những ngôi bậc đó ư (A la hán, Chánh Đẳng Giác, Chuyển Luân Vương, Đế Thích, Ác ma, Phạm Thiên là năm ngôi vị tượng trưng cho sự thành đạt lớn lao) Nếu như vậy là đồng quan niệm với những gì Ác ma nói với Tỳ kheo ni Somà: người nữ không có trí làm sao có khả năng thành tựu chánh quả
“Địa vị khó chứng đạt,
Chỉ Thánh nhân chứng đạt,
Trí nữ nhân hai ngón,
Sao hy vọng chứng đạt”. [11]

Nhưng chúng ta cũng nên xét lại: như lời Tỳ kheo Somà nói kệ đáp lời Ác ma rằng:
Nữ tánh chướng ngại gì,
Khai tâm khéo thiền định,
Khi trí tuệ triển khai,
Chánh quán pháp vi diệu
Ai tự mình tìm hỏi
Ta, nữ nhân, nam nhân,
Hay ta là ai khác?

Xứng nói chuyện Ác ma,
Ác ma thật cân xứng” [12]

Năm điều chướng ngại, ràng buộc người phụ nữ dù cho đã được đức Phật đề cập trong kinh vẫn chỉ là dùng để thể hiện những quan điểm, những tư tưởng hoàn toàn bất lợi với người phụ nữ của thế gian và xã hội, mà trong Phật giáo thì ngược lại. Và chính điểm này ta mới thực sự thấy được việc đề cao giá trị đạo đức và khả năng đồng đẳng với nam giới của phụ nữ trong giáo lý Phật giáo là một điều chính đáng. Như trong kinh Tăng Nhất A Hàm II, Phật đã bác bỏ điều này qua việc đức Phật Bảo Tạng Như Lai thọ ký quả Phật cho Mâu Ni Vương Nữ: Trong vô lượng số “kiếp về sau, nhà người ra đời sẽ gặp Phật, và được đức Phật ấy thọ ký thành Phật”[13]
 

Sự Phát Triển Của Ni Giới Ngày Nay Trong Giáo Đoàn Phật Giáo
     Đã có Hội nghị lần thứ XI được tổ chức tại Việt Nam từ ngày 28/12/2009 đến ngày 03/01/2010 địa điểm tổ chức tại chùa Phổ Quang, quận Tân Bình, Trung tâm Văn hóa Phật giáo Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh,  tham dự có 1.600 vị đại biểu trong nước và quốc tế. Đại biểu tại Việt Nam gồm: Đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đại diện các Đại Sứ quán nuớc ngoài, các đoàn ngoại giao, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam; đại biểu Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Ban Trị sự tỉnh, thành hội Phật giáo, chư Tôn Đức Ni thuộc Phân ban đặc trách Ni Giới Trung Ương và Ni giới các tỉnh, thành hội, đại diện nữ Phật tử trong nước. Dự kiến có khoảng 300 đại biểu nữ Phật giáo đến từ 47 quốc gia và vùng lãnh thổ, gồm Ni trưởng, Ni sư, Ni cô đại diện Ni giới và các giáo sư, học giả, diễn giả, nhà nghiên cứu đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu. Chủ đề Hội nghị lần này là Nữ giới Phật giáo lỗi lạc nhằm tôn vinh những thành tựu của nữ giới Phật giáo, thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị của nữ giới trên khắp thế giới, qua Hội nghị để nữ giới Phật giáo trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm sống, làm việc, tu tập của người nữ Phật giáo trên khắp thế giới, giúp nhau cùng vượt qua những thử thách để đạt được an lạc hạnh phúc. Bên cạnh đó Hội nghị làm cho bạn bè đến từ nhiều quốc gia, nhiều lãnh thổ hiểu thêm về sự phát triển của Việt Nam, hiểu biết về Giáo hội Phật giáo Việt Nam và những thành tựu của nữ giới Phật giáo Việt Nam cũng như truyền thống phụ nữ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta.
Ngày nay, Ni giới đã thoát khỏi những định kiến xã hội, chúng ta biết ơn trưởng lão Tỳ kheo ni Đại Ái Đạo, người làm cuộc cách mạng, xin phép Đức Phật cho Nữ giới Xuất gia. Chúng ta hãy hướng tâm về Tỳ Xá Ly đảnh lễ Thế Tôn và thành kính tri ân tổ sư ni, và chư vị tiền bối hữu công ấy.
Hôm nay chúng ta đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, với ngôn ngữ, phong tục tập quán và văn hóa khác nhau đồng câu hội về đây trong tình tương thân tương ái của những người con gái Đức Như Lai. Với trí tuệ của những người đệ tử Phật, tin rằng chúng ta sẽ vượt qua mọi dị biệt, để từ đó tìm ra một mẫu số chung giúp cho Nữ giới nói chung và Nữ giới Phật giáo nói riêng, thể hiện khả năng, vị trí và vai trò của mình trên nhiều lãnh vực khác nhau của xã hội.
Như vậy không có nghĩa là do người nữ nghiệp chướng nặng nề phải chấp nhận những áp bức bất công của xã hội, mà ngay đây chúng ta có thể nói với cái nhìn thiết thực, với tư duy đúng đắn về người phụ nữ, Đạo Phật đã góp phần đưa người phụ nữ lên một địa vị xứng đáng trong xã hội.

Những Tấm Gương Sáng Ni Giới Việt Nam:
Suốt chiều dài lịch sử của ni giới Việt Nam. Từ đầu thế kỷ thứ nhất, ở miền Bắc Việt Nam, rất nhiều nữ tướng của triều đại Hai Bà Trưng (40 – 43) như: Công chúa Bát Nàn, Thiều Hoa, Vĩnh Huy, Phương Dung…, sau khi tham gia vào công cuộc đấu tranh giành độc lập cho nước nhà, họ đã “xem công danh như đôi dép bỏ” và trở về chùa tiếp tục nếp sống tu hành cao quý. Vào thời Lý Thánh Tông, có ni sư Diệu Nhân (1042-1113)  được đánh giá như là một tấm gương mẫu mực nhất của hàng ni chúng thời bấy giờ. Thế danh của Ni Sư là Ngọc Kiều, xuất thân từ hoàng gia, xuất gia học đạo với Thiền Sư Chân Không, và thuộc thế hệ thứ 17 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sau khi đắc pháp, ni sư đã được thiền sư Chân Không bổ nhiệm giữ chức vụ viện chủ ni viện Hương Hải. Tại đây, trước khi viên tịch, ni sư đã gọi các đệ tử đến và đọc bài kệ thị tịch. Qua tư tưởng bài kệ này đã chứng tỏ ni sư Diệu Nhân là một bậc tu hành chứng đạo.
Đến đầu thế kỷ XX, nhiều ni sư đã có nhiều công lao đóng góp cho sự hưng khởi phong trào tu tập của ni giới như ni sư Diệu Ngọc (1885-1952), ni sư Diệu Tịnh (1910-1942). Các bậc Trưởng Lão của ni giới Việt Nam do tu hành cẩn trọng, trì giới nghiêm mật, nên xứng đáng là những người con gái gương mẫu của Đức Phật mà điển hình trong số ấy có thể kể đến là ni trưởng Như Thanh (1911-1999). Sau một đời hành Bồ tát đạo, xây dựng ni giới Việt nam,  trong những giây phút cuối đời, ni trưởng Như Thanh đã khẳng định: “ Tôi sẽ trở lại cõi Ta Bà để tiếp tục công việc còn lại bởi vì tôi thương Ni giới nhiều lắm. Họ cần có người dạy bảo trong đời sống tu tập của họ”. Hay ni trưởng Giác Nhẫn (1919 – 2003), sau khi viên tịch cũng đã lưu xá lợi cho đời như một bằng chứng sống động của một đời phạm hạnh thanh tịnh và công đức viên mãn. Trong hệ phái Khất sĩ cũng có những vị ni nổi danh trong công tác độ sinh. Cũng như trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc như ni trưởng Huỳnh Liên, ni trưởng Bạch Liên...vv. Trong công tác giáo dục, nổi bật là ni trưởng Trí Hải (1938 - 2003), người đã trước tác, dịch thuật nhiều tác phẩm có giá trị, được giới trí thức phật tử đánh giá cao và tôn trọng. Ni giới Việt Nam ngày nay luôn dấn thân trong mọi lĩnh vực của cuộc sống  từ việc xây dựng, trùng tu chùa chiền cho đến các hoạt động từ thiện xã hội, hay công tác xóa đói, giảm nghèo do nhà nước chủ trương. Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam hầu như luôn xem các chùa chiền, tịnh xá của chư ni là hạt nhân quan trọng trong các hoạt động từ thiện xã hội
 
Tóm lại, về phương diện đời sống vật chất, nhân loại đã tiến bộ rất nhiều. So với nửa thế kỷ trước đây thôi, có lẽ thế hệ cha ông chúng ta cũng không thể nào hình dung nổi sự tiến bộ về vật chất của thời đại chúng ta. Thế nhưng về mặt tính người, phẩm giá, sự cao thượng, sĩ khí của con người, theo quan niệm Phật giáo, thì hình như thời hiện đại không hơn thời trung cổ bao nhiêu, nếu không nói là kém hơn.
 Ðạo Phật, với muôn ngàn hướng đi, không gì khác hơn là làm cho con người càng ngày càng thực hiện được tính người cao đẹp của mình, Ðức Phật đã thực hiện tính người một cách trọn vẹn, trở nên con người lý tưởng trở thành con người toàn năng và toàn trí, bậc Ðiều Ngự Thượng Sư.
Tính nhân bản của đạo Phật là đi ngược lại những gì làm hạ thấp nhân phẩm con người và un đúc cho con người mọi đức tính cao đẹp để thực hiện trọn vẹn định mệnh và ý nghĩa làm người. Giáo pháp Phật là vì tinh tú chói sáng kéo dài cho đến mấy ngàn năm tư tưởng, có sức công phá mãnh liệt vào thời đại. điều đó thể  hiện bằng những phương thức phù hợp với thực trạng cuộc sống theo chiều hướng CHÂN THIỆN MỸ. Đây là điều diễm phúc và đáng vui mừng nhất cho nữ giới, vì họ được sánh như nam giới có khả năng chứng ngộ chân lý một cách bình đẳng. Quả đúng thật như vậy, không ai có thể phủ nhận về sự chứng ngộ chân lý của Đức Phật lịch sử (đấng Sakyamuni) của nhân loại, chính sự chứng ngộ lịch sử đó là niềm tự hào lớn cho nhân loại và cho tất cả chúng sanh.  Ngài nói chỉ có hành động tạo tác sai khác của chính mình và sự nắm bắt sai lạc của chính mình để rồi đắm chìm trong biển mê, rồi quên cả lối về, không nhận ra mình là ai, như chàng cùng tử với hạt châu trong chéo áo mà phải lang thang dong ruỗi ngược xuôi mà thôi. Khả năng thành Phật hay nói đúng hơn là sự trở về với nguồn tâm tuệ giác, là sự nhận diện về "Bản lai diện mục" chứ không phải là thân phận người nam hay nữ. Chúng ta được gặp Phật Pháp, được học hỏi về bài học "làm người" từ bậc vĩ nhân, không có một sự phân chia, kỳ thị về chủng tộc, màu da, về giai cấp cao thấp, giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, già trẻ. Ngài đối với tất cả chúng sanh bằng một tình thương bình đẳng, Ngài muốn tất cả chúng sanh đều được sống trong tình thương vô bờ bến và dạy cho phương pháp để tự mình có thể vượt thoát khỏi mọi khổ đau để đến được mục tiêu tối thượng. Ngài dạy: "Khi tự mình làm điều tội lỗi thì tự mình làm ô nhiễm; khi ta tránh điều tội lỗi thì lúc đó chỉ có ta gội rữa cho ta. Trong sạch hay nhiễm ô là tự nơi ta, không có ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch."[14]. Bổn phận của chúng ta là chia sẻ những kinh nghiệm, những hiểu biết của mình với càng nhiều người càng tốt để cuối cùng tất cả chúng ta thấy được bức thông điệp của Đức Phật dành cho chúng sinh tiếp tục đến với loài người trên khắp năm châu bốn bể, không nên phân biệt giai cấp và giới thể để làm gì, vì điều đó không đem lại lợi mình lợi người và lợi ích cho chúng sanh. Một lần nữa, dầu là ở hiện thực hay tiềm năng, niềm khát vọng hướng thượng đó vẫn luôn luôn là mục tiêu lý tưởng của đời sống, nó làm cho mọi hành động của chúng ta trở nên có ý nghiã và cao đẹp hơn cho dù chúng ta la nam hay nữ.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Kinh Trung Bộ I, II, III, HT. Thích Minh Châu, viện NCPHVN, 1986.
2. Kinh Bộ Tăng Chi I, II, III, HT. Thích Minh Châu, viện NCPHVN, 1988.
3. Kinh Trường Bộ I, II, HT. Thích Minh Châu, viện NCPHVN, 1991-1992.
4. Kinh Tương Ưng Bộ I, II, III, IV, V, HT. Thích Minh Châu, viện NCPHVN, 1993.
5. Kinh Pháp Cú, HT. Thích Minh Châu, viện NCPHVN, 1990.
6. Trưởng lão ni kệ, HT. Thích Minh Châu, viện NCPHVN, 1982.
7. Kinh Trung A Hàm I, II, III, IV, HT. Thích Thiện Siêu, viện NCPHVN, 1993.
8. Kinh Tăng Nhất A Hàm I, II, III, HT. Thích Thiện Siêu, viện NCPHVN, 1993.
9. Kinh Tâm Địa Quán, Phúc Điền, Thành Hội PGTPHCM, 1995.
10. HT Thích Thanh Kiểm, Lược sử Phật giáo Ấn Độ, THPGTPHCM, 1995.
11. Thích Chơn Thiện, Tăng già thời Đức Phật, VNCPHVN, 1991.
12. Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, GHPGVN, 1993.
 13 Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh, 1971.
14. Phật giáo nhìn toàn diện, Phạm Kim Khánh, 1996.
 15. GS Minh Chi, Tài liệu Tôn Giáo học, trường CCPHVN, 1993.
16 Nguyễn Trọng Văn, Lịch Sử Triết học Phương Tây, Đại học Tổng hợp TPHCM, khoa Triết học.
17Marguerite Marie Duboid, Dictionnaire Morderne Francais-Anglas (Librairie Larousse, Paris, 1960).
18: K. N. Jayatillake, The Principle of Internaltional Law in Buddhist Doctrine
19. Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, UBKHXHVN, viện Triết học.
20. Xã hội nhập môn, Nguyễn Minh Hòa, nxb giáo dục HN, 1995
 

[1] Tăng Chi Bộ III, Kinh Kàlàma, (Anguttara Nikâya) Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, tập I, trang 188-193
[2] Marguerite Marie Duboid, Dictionnaire Morderne Francais-Anglas (Librairie Larousse, Paris, 1960).
[3] K. N. Jayatillake, The Principle of Internaltional Law in Buddhist Doctrine,( Tóm tắt từ the "Recueil des cours," Vol.II, 1967, (Private Circulation only), Leiden, tr. 518.)
[4] Dìgha-Nikàya,III, tr. 93
[5] Giới đàn ni
 
[6] Kinh Bộ Tăng Chi, Phẩm người Tối Thắng. HT Thích Minh Châu, Viện NCPHVN, 1988, p.34
 
[7] Kinh Bộ Tăng Chi, Phẩm Sumana, HT Thích Minh Châu, Viện NCPHVN, 1988, p.39
 
[8] Trưởng lão ni kệ, bài thứ 11
 
[9] Kinh Bộ Tăng Chi I, Phẩm Gotamì II, HT Thích Minh Châu, Viện NCPHVN, 1988, p.114
 
[10] Trung Bộ Kinh II) Đại kinh Vacchagotta, HT Thích Minh Châu, Viện NCPHVN, 1988, p.236
 
[11] Kinh Bộ Tăng Chi I, Phẩm Tương Ưng Tỳ Kheo ni, HT Thích Minh Châu, Viện NCPHVN, 1988, p.285-286
                                                                                                                  
 
[12] Kinh Bộ Tăng Chi I, Phẩm Tương Ưng Tỳ Kheo ni, HT Thích Minh Châu, Viện NCPHVN, 1988, p.285-286
 
[13] Phẩm Mâu Ni Vương Nữ, Kinh Bộ Tăng Chi I, HT Thích Minh Châu, Viện NCPHVN, 1993, p.43
 
[14] Kinh Pháp Cú. Hòa thượng Minh Châu dịch, sài Gòn, 1996

Tác giả bài viết: Thích nữ Tuệ Định
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
1

LIÊN KẾT LAM

   
 

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 20
  • Hôm nay: 3973
  • Tháng hiện tại: 44451
  • Tổng lượt truy cập: 3899149