1
CHÀO MỪNG ANH CHỊ EM LAM VIÊN GHÉ THĂM TRANG NHÀ LAM THÀNH CỔ - QUẢNG TRỊ

Góp phần tỏa sáng thâm nghĩa "Hiện cảnh đản sanh của Đức Phật"

Đăng lúc: Thứ hai - 20/06/2016 05:06 - Người đăng bài viết: Ban Biên Tập
Thường trong danh từ nhà Phật, khi nói đến sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong cõi đời này, người ta thường dùng chữ đản sanh (nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời); hay thị hiện (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt, cho con mắt trần của chúng ta thấy được); hay giáng sinh (nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sinh ra). Để góp phần làm rõ thâm nghĩa hiện cảnh đản sanh của Đức Phật, Phật tử Dương Đình Chí tại Quảng Ngãi đã gửi về cho BBT bài nghiên cứu, xin được giới thiệu đến bạn đọc.
Góp phần tỏa sáng thâm nghĩa "Hiện cảnh đản sanh của Đức Phật"

Góp phần tỏa sáng thâm nghĩa "Hiện cảnh đản sanh của Đức Phật"

Muốn liễu nghĩa hiện cảnh Đản sanh của Đức Phật, cần suy tư  2 yếu kiện:
            1. Phương tiện của Như lai: Theo dòng Phật sử, đức Thích-ca lúc mới hoàn thành tuệ giác vô thượng (thành Phật) thì Ngài không muốn nói gì cả. Vì những gì gọi là Ngài chứng đắc được quá thâm sâu huyền diệu không phải tư duy phân tích mà lĩnh hội được. Đức Phật nhận chân rằng con người vốn có giác tánh thanh tịnh nhưng đại đa số bị các tập tục lạm danh thần quyền, mặc khải thần linh mê hoặc dưới nhiều chiêu thức tinh tế. Con người bị đánh mất mình, gửi gắm tâm hồn vào các đấng siêu hình tưởng tượng hoang đường, vào các giáo thuyết dị thường phi chân lý lâu đời  thành tập quán thâm căn cố đế. Nếu giáo huấn bằng ngôn ngữ thông thường để con người hiểu, thực hành mang lại an lạc cho nhơn quần và lợi ích cho muôn loài là điều bất khả đắc. Sau nhiều lần thỉnh cầu của những Hiền nhân Chánh sĩ, Đức Phật phải hoạt dụng vô số phương tiện, vừa truyền đạt theo mô phạm Tứ-tất-đàn (Vị nhơn tất đàn, đối trị tất đàn, thế giới tất đàn, đệ nhất nghĩa tất đàn), vừa xả thân vận hành (đạo diễn) để định hình “con đường cứu khổ chúng sanh”.
             Phương tiện của Như lai (đức Phật) được kiết tập trong Tam tạng Kinh điển, chư Tổ -sau Phật-, tóm lược thành 12 thể tài hay 12 bộ môn:  trùng tụng, cô khởi, phương quảng, thí dụ, bổn sanh, bổn sự, vị tằng hữu, ký biệt, trường hàng, nghị luận, phương tiện, tự thuyết (1). Hiện cảnh đản sanh  thuộc bộ môn Vị-tằng-hữu. Vị tằng hữu là việc hiếm có, hy hữu trên đời , là ngụ ngôn ẩn dụ triết lý giáo dục rất thâm thúy. Ví dụ như dân tộc Việt có huyền sử   “Mẹ trăm con”, “Phù đổng thiên vương”…
              2. Y nghĩa bất y ngữ: Những gì Phật dạy được chư đệ tử Phật kiết tập để lại muôn đời luôn phù hợp chân lý và ngày càng sáng tỏ theo nhịp độ tiến hóa của nhân loại (2), gọi là Kinh Phật. Do đó, Kinh Phật không nên đồng sàng -khi dẫn giải- như các Kinh của những nền tín ngưỡng khác. Kinh Phật phải nói cho đủ là Khế Kinh của đạo Phật. Khế Kinh -khế lý và khế cơ-, muốn tìm hiểu chân nghĩa phải nhớ  “Y nghĩa bất y ngữ” trong Pháp Tứ Y (Y Pháp bất y nhơn, Y nghĩa bất y ngữ, Y trí bất y thức, Y liễu nghĩa Kinh bất y bất liễu nghĩa Kinh) ; ngoại trừ những trường hợp Phật nói “đệ nhất nghĩa tất đàn”. Dẫn giải lời Phật ý Kinh cần suy tư Phật nói tiêu chuẩn tất đàn nào. Khi chưa liễu nghĩa tiêu chuẩn tất đàn mà y cứ ngôn ngữ văn tự -chính văn hay đã phiên dịch- trích dẫn sẽ dễ lầm lạc chân nghĩa, không khéo lại là phỉ báng Phật (Y Kinh giải nghĩa tam thế Phật oan). Nhiều người gọi là phụng trì kinh Phật mà buông lơi chỗ này -thường y ngữ bất y nghĩa- dễ nảy sinh “sở tri chướng” ; có người có được phần nào kiến thức thế gian thì hay “kiến thủ kiến”. Hành trì pháp Phật “thuần tôn giáo” dễ bị mê lầm, khó thọ dụng được những gì Phật dạy. Vì sao? Thực chất đạo Phật là một nền tảng “Đạo học”(phương pháp nhận thức chân lý cuộc đời, mô phạm luân lý đạo đức nhân sinh) chứ không phải là một tôn giáo (3). Vì theo định nghĩa tôn giáo là có 2 yêu tố Thần khảiGiáo điều ; trong đạo Phật không có 2 yếu tố này. Và, áo nghĩa tiềm tàng là: bức xúc trước những dụ khị tinh vi vô độ của các giáo thuyết dị thường phi chân lý, “đức Đại-từ” tùy căn thuận tánh xả thân thể nhập các hình thái tôn giáo tín ngưỡng đương thời, nhằm khai thị tiềm năng tự chủ giác tánh thanh tịnh của con người cho con người, chứ không nhằm sáng lập tôn giáo như rất rất nhiều người nhầm lẫn (4). Những hình thức nghi lễ mang màu sắc tôn giáo của đạo Phật (kể cả các câu Thần chú (5))là “phương tiện phổ vị thế giới tất đàn” của chư liệt Tổ -sau Phật-, nhằm gieo duyên người sơ cơ. Đệ tử Phật (Tăng và Tín) thâm ngộ sự thật này sẽ rất tự tại và tâm đắc câu nói bất hủ của Karl Marx“Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.
            Sau đây, dựa vào Khế Kinh và cuộc đời đức Phật (Cảm nhận qua những bộ Kinh liễu nghĩa -Phật pháp đại thừa-, giảng giải của thầy Hiệu trưởng trường Phật học TP. HCM), bỉ nhân mạo muội có thiển ý góp phần giải mã thâm nghĩa câu Pháp ngữ “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”(6) ẩn dụ trong hiện cảnh Đản sanh  của đức Phật qua  4  biểu tượng chính (7 bước + tay chỉ trên tay chỉ dưới + hoa sen + bước đi trên hoa sen) (7) :
             a)- 7 bước: Vạn vật trong vũ trụ  hình thành có 3 chủng loại: Vô tình chúng sanh (trời mây, sông núi, khoáng vật, thực vật…) + hữu tình chúng sanh hạ cấp (muôn thú) và hữu tình chúng sanh cao cấp (con người). Một số Kinh điển Phật, qua nhận thức giản lược cổ xưa thường rút gọn các pháp hữu vi là hợp thể của 4 Đại : đất, nước, lửa, gió. (Đại có nghĩa là chất tố, nguyên tố, chủng tử…khắp cùng không gì làm mất được). Nhân sinh quan Phật học thì thân tâm con người gồm 5 uẩn : sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vũ trụ quan Phật học thì Như lai tạng bản thể (Càn-khôn-vũ-trụ dumg chứa) duyên khởi ra hiện tượng (vạn vật) theo quy tắc sau :
                - Vô tình chúng sanh duyên sinh bởi 5 Đai : địa-thủy-hỏa-phong-không (chất cứng, chất nước, nhiệt độ, chuyển động, không khí)
                - Hữu tình chúng sanh hạ cấp duyên sinh bởi 6 Đại : địa-thủy-hỏa-phong-không-kiến (chất cứng, chất nước, nhiệt độ, chuyển động, không khí, thấy biết)
                - Hữu tình chúng sanh cao cấp duyên sinh bởi 7 Đại : địa-thủy-hỏa-phong-không-kiến-thức (chất cứng, chất nước, nhiệt độ, chuyển động, không khí, thấy biết và nhận thức) (8).
            Vô tình chúng sanh khi duyên hợp 4 Đại : chất cứng-chất nước-nhiệt độ-chuyển động mà thiếu không khí thì  không hình thành (kể cả trong lòng đất, trong nước). Hữu tình chúng sanh  -hạ cấp và cao cấp-, khi duyên hợp giữa tinh cha huyết mẹ mà vì duyên do nào đó khiếm khuyết một Đại thì sẽ không hình thành hoặc hãn hữu hình thành quái thai . Muôn thú chỉ đủ 6 Đại, con người thì phải đủ 7 Đại (kể cả thụ tinh nhân tạo).
            Góc độ chủng loại, phân tích như thế để nhận thực rằng thân người -gồm 7 Đại-, thuộc tối linh ư vạn vật là hoàn toàn khách quan,  không áp đặt tự tôn gì cả.                                                           
            Bình diện tổng thể, thì vạn vật trong vũ trụ đều tương quan tương duyên nhau. Trong một pháp có tất cả các pháp. Vạn vật kể cả con người là do duyên sinh theo quy luật đồng-dị:  đồng chủng tương hợp, dị chủng tương xích trong quy tắc Thập Như Thị (9); chứ không do một đấng siêu nhân Chúa tể nào tạo tác ra. (Quy luật đồng-dị, sau này -thế kỷ 19-  triết học Karl Marx gọi là quy luật thống nhất và đấu tranh). Vạn vật đủ nhân đủ duyên sinh trụ, thiếu nhân thiếu duyên hoại diệt là một chân lý. Do đó đức Phật tuyên thuyết vạn pháp duyên sinh như huyễn, hay nói cách khác vạn pháp vô ngã (ẩn ngữ của duy ngã độc tôn (6))
            b)- Tay chỉ trên tay chỉ dưới : là lấy  đầu và chân làm chuẩn tức chỉ cho thân người, hàm nghĩa -về mặt tục đế-, thân người là khó được, rất quý hiếm, là tối linh ư vạn vật, là một tiểu vũ trụ. Khế Kinh thường đề cập đến cụm từ  “hoành biến thập phương” hay 10 phương pháp giới : phương đông, phương nam, phương tây, phương bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, phương trên và phương dưới. Với chánh biến tri giác, đức Phật đã nhận chân rằng vạn vật trong vũ trụ trong đó có con người đang hiển bày giữa không gian vô tận nên không có chuyện “trời tròn đất vuông” “trên cao có trời dưới đất có vạn vật” như  nhận thức của nhân loại thời đó, và đến nay vẫn còn không ít người lầm tưởng. Đành rằng Khế Kinh có nói đến trời Đâu suất, trời Đao lợi, trời Đế thích, Địa tạng vương, Hải long vương v.v.. Những giảng dạy này là “phương tiện vị nhơn tất đàn” của Như Lai tùy ứng tập quán Ngoại đạo (đạo cầu bên ngoài). Pháp giới nhứt chân, nếu hiểu nghĩa -thiên thượng thiên hạ (6) là một tay chỉ trời một tay chỉ đất, chẳng những sai nghĩa ngôn từ mà còn lệch lạc vũ trụ quan Phật giáo, tiền phương của vũ trụ quan khoa học hiện đại. (Suy luận Trời & A-tu-La : người ngoài hành tinh, là méo mó “Thập pháp giới”(10) theo chân tinh thần Phật giáo).
             c)- Hoa sen: là loại nhân quả đồng thời, sinh trưởng trong bùn lầy nước đục nhưng khi lên khỏi mặt nước vẫn tinh anh vô nhiễm bùn nhơ ố hương ; khi nở ra thì sắc màu lộng lẫy, phảng phất hảo hương, ngó sen hạt sen hữu dụng cho muôn loài. Hàm nghĩa ví cho con người sống trong cuộc đời đầy ô trược nhưng con người (không phân biệt màu da đẳng cấp, theo tôn giáo hay không theo tôn giáo nào) đều có tuệ giác (đại thứ 7), và có khả năng đạt được tuệ giác tối thượng (Hoa sen nở). Hoa sen dưới bàn chân là biểu trưng cho nền tảng đạo học theo con đường giác ngộ, gọi là đạo Phật.
             d)- Bước đi trên hoa sen: hàm nghĩa con người muốn đạt được khinh an-tự tại-tịnh lạc-giải thoát-bồ đề-niết bàn thì tự thân phải tri hành thiện pháp, không hệ lụy thần linh siêu nhân nào ; tri hành hợp nhất rồi sẽ theo luật nhân quả mà thọ dụng. Tri hành thiện pháp tới đâu thọ dụng thiện quả -quả tăng ích- tới đó. (Quy luật này, đến nay Triết học Duy vật biện chứng gọi là làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu). Tri hành thiện pháp toàn hảo 100%(trí tuệ tột đỉnh) là đạt vô thượng chánh đẳng chánh giác(11), gọi là thành Phật.
           Kết luận: “vẽ rắn thêm đầu vẽ rồng thêm chân” là lệ thường của những nhà ghi chép sử, nhất là lịch sử của một bậc đại từ bi ; và là cổ đại nên việc tô điểm siêu hình là điều không tránh khỏi. Hành giả cần khách quan để nhận thực chân lý, cần quán chiếu thực tiễn khi học và hành Khế Kinh đã qua nhiều lần “tam sao”(12).                                                                                                                                                                                
          Tóm lại, qua thiển ý trình bày trên, chân nghĩa của câu pháp ngữ “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” trong hiện cảnh Đản sanh của đức Phật là :
- Như Thế tôn ngôn nhất thiết pháp vô ngã
- Duy, thân người là tối linh ư vạn vật (độc tôn thiên hạ)
- Vì, con người vốn có tri kiến Phật (Phật tánh)
- Và, con người vẫn có khả năng ngộ nhập Phật tri kiến (thành Phật)
Nói cách khác:     - Con người và vạn vật đều là pháp duyên sinh như huyễn (vô ngã)
                               - Duy, thân người là loài hữu tình cao quý nhất (độc tôn thiên hạ)                                                                                                           
                               - Vì, con người vốn có giác tánh thanh tịnh  (Phật tánh)
                               - Và, con người vẫn có khả năng đạt được tuệ giác vô thượng (thành Phật)./.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Mười hai thể tài: Thầy Trí Quang chuyển ngữ ( cập nhật theo thứ tự trên) là : Chỉnh cú độc lập, tản văn, cực kỳ cao rộng, ví dụ, đời  trước, việc cũ, việc hiếm, thọ ký thành Phật, chỉnh cú thích ứng, thảo luận, nguyên do, tự nói. (trong Pháp Hoa lược giải trang 125).
(2) Cần phản tỉnh luận thuyết cho rằng: Chánh Pháp tồn tại 500 năm, 500 năm tiếp theo là tượng Pháp, sau đó là thời mạt Pháp. Phải chăng đấy là đặc thù bản sắc tín ngưỡng Ấn độ. Những gì Phật khai thị đều là chân lý của cuộc đời. Theo nhịp độ tiến hóa của nhân loại, văn minh ngày càng phổ cập tất nhiên chân lý  ngày càng sáng tỏ, là cơ sở cho nhận định rằng đạo Phật tương lai sẽ là Đạo Học Toàn Cầu (bác học Albert Einstein). Nhận định này đang hé lộ khả quan, đơn cử là Liên hiệp Quốc đã khơi gợi nền móng vào cuối Thế kỷ XX: Đại lễ Vesak LHQ. Tuy nhiên, chủ động vẫn là do tập thể đệ tử Phật. Nếu đồng tâm “tự mình thắp đuốc lên mà đi”, phổ môn cùng thọ dụng an lạc giải thoát thì hiện thực nhận định này sẽ gần ; nếu đam mê thần linh hóa Phật-Bồ tát, đua đòi hiện đại hóa cúng tế-chú nguyện thì việc phổ cập chánh Pháp vẫn còn lắm trắc trở, chứ chân lý luôn tồn tại khách quan nên không có tàn mạt?
(3)… “Phật giáo trở thành tôn giáo từ khoảng giữa đời nhà Thanh trở về sau. Sau khi trở thành tôn giáo thì thật là tai họa, mục đích dạy học chân chính bị đánh mất. Tôn giáo không đạt được mục đích Phật pháp chân thật, điều này chúng ta phải biết…”(lão HT Tịnh Không trong “Kinh Phật thuyết đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác huyền nghĩa”, tập II, trang 194).
(4) Những giáo thuyết Vô ngã, Vô thường, Nhân duyên, Nhân quả, Sinh tử, Luân hồi v.v…đều là chân lý của cuộc đời chứ không do đức Phật bày biện, sáng tạo. Đức Phật  xả thân khai thị cho con người thấy biết để tùy thuận sống đúng, sống hợp chân lý nhằm thọ hưởng an lạc giải thoát, Bồ đề Niết bàn và tạo nhân cho quả lai sinh, mà thôi. Còn nghi lễ tôn vinh, cúng kiếng, quỳ lạy… cầu kỳ, là phương tiện “đối trị tất đàn”của chư liệt tổ -sau Phật-, đối ứng với hàng Ngoại đạo để gieo duyên người sơ cơ, không phải cứu cánh của đạo Phật.
(5) Đức Phật luôn dùng ngôn ngữ phổ thông để nói pháp qua mật nghĩa 4(bốn) Tất-đàn. Mật ngữ hay Thần chú là quyền biến của chư liệt Tổ, sau Phật (phải chăng tập quán tín ngưỡng Tây Tạng?) nhằm tùy ứng với tập quán Ngoại đạo (Đại bộ phận quần chúng thời Phật đều tiêm nhiễm niềm tin Ngoại đạo nên Phật cần phải nói Pháp theo mô phạm Tứ Tất đàn). Cần tỉnh giác giữa Mật nghĩa và Mật ngữ, kẻo lạc vào “vô sắc giới”!
(6) Tìm nghĩa các câu Pháp ngữ (câu Kệ) trước hết cần lưu ý : Trường hàng chuyển thể Trùng tụng thường bị đảo ngữ, hoán dụ áo nghĩa.
(7) Biểu tượng vòng tròn hào quang là nghệ thuật đồ họa. Cần nhận thực hào quang Phật là biểu trưng trí tuệ  Phật, không nên mường tượng Phật đi đâu là có ánh sáng tỏa chiếu tới đó.
(8) Suy tư bản thể duyên khởi ra hiện tượng qua 3 chủng loại nói trên sẽ nhận thực rằng con người chết (cũng như vạn vật tan hoại) sẽ không bao giờ mất ; khi đầy đủ nhân duyên sẽ lai sinh theo quy tắc“Thập Như Thị”(đức Phật mặc định trong Kinh Pháp Hoa), nghĩa là pháp nào lai sinh theo pháp đó. Con  người (7 Đại) không thể lai sinh động vật hạ cấp (6 Đại), thực vật (5 Đại) như  suy tưởng theo quán tính dân gian, theo huyền thuyết Ngoại đạo. Và dù rằng, khoa học thí nghiệm từ  chuột, khỉ… để phục vụ cho con người, nhưng không phải như thế là hoán cải “Thập như thị”. Việc cũ, Đời trước, Việc hiếm… dụ ngôn trong Khế Kinh là “phương tiện của Như Lai”.
(9) Thập Như Thị (mười như thật) : Như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bổn mạt cứu cánh.(Biểu hiện như vây, đặc tính như vậy, bản thể như vậy, năng lực như vậy, động lực như vậy, nhân tố như vậy, duyên tố như vậy, hình thành như vậy, toàn bộ như vậy –Thầy Trí Quang trong Pháp hoa lược giải tr.166).
(10) “…Mười pháp giới tức 6 Phàm & 4 Thánh đều không ngoài tâm”…(Ngữ Lục Thiền Sư Hư Vân, trang 404.)
(11) Phật là Giác, ngược lại là Mê. Con người vốn  có giác tánh thanh tịnh. Ngộ nhập 5%, 10%, 30%....thì thọ dụng an lạc giải thoát, Bồ đề Niết bàn  5%, 10%, 30%. Ngộ nhập 100% gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Suy lý với hiệu đính (8) và (10): Đức Thích ca là con người, mầm giống Giác sẽ lai sinh người Giác. Lịch sử nhân loại luôn có nhiều người Giác, nhưng vì nhiều duyên nhân nên chưa có toàn vẹn như chính bản mà thôi. Vô số người Trời-Bồ tát-Phật, Khế Kinh đề cập (Thích ca là Phật đã thành, mọi người là Phật đã-đang-sẽ thành, không nhất thiết phải là Tăng hay Tín) là sự thật trên hành tinh này. Tiểu-Trung-Đại thiên thế giới, Tây phương cực lạc, Đông phương tịnh độ, Kiếp cuối cùng thành Phật, Nhiên đăng cổ Phật, Đương lai Di lặc tôn Phật v.v…là“thông giáo quyền thừa của Như lai” (nói vậy mà chưa phải vậy, phương tiện đối tri tất đàn & vị nhơn tất đàn với tập quán  Ngoại đạo).
(12) Khế Kinh của đạo Phật phải đọc nhiều lần cho thuộc (HỌC) rồi đối chiếu thực-hư (Sữa nguyên chất hay đã pha trộn?) và suy xét Phật nói tiêu chuẩn Tất-đàn nào (THIỀN) để vận dụng thực tiễn tăng ích (thiện) cho cuộc sống tự thân, nhơn quần và vạn vật (HÀNH TRÌ). Thời Phật và tiếp sau nhiều Thế kỷ, người biết chữ không nhiều, các bậc Thiện tri thức phải đọc cho nhiều người đọc theo (các Tôn giáo cổ đại hẳn như thế?). Từ đây hình thành truyền thống đọc-tụng. Còn cổ tục đọc-tụng theo âm hưởng Chuông mõ-Sớ điệp-Thần chú là quyền biến của chư liệt Tổ, sau Phật (chủ yếu xuất phát từ Văn hóa Phong kiến Trung quốc, thời Tam giáo đồng nguyên). Nếu cố thủ cổ tục đọc tụng theo nghi lễ chuông mõ chắc hẳn khó thọ dụng được những gì Phật dạy (lợi bất cập hại!) ; nếu sử dụng như một dịch vụ trao đổi (cúng tế-trao quà) phải chăng là học đòi Bà-la-môn giáo Ấn độ giáo, là vô tình tiếp tay ngăn che làm mờ nhạt ánh sáng Chánh pháp?Là phỉ báng Phật.
Tác giả bài viết: Dương Đình Chí
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
1

LIÊN KẾT LAM

   
 

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 10
  • Hôm nay: 2512
  • Tháng hiện tại: 72921
  • Tổng lượt truy cập: 3927619