1
CHÀO MỪNG ANH CHỊ EM LAM VIÊN GHÉ THĂM TRANG NHÀ LAM THÀNH CỔ - QUẢNG TRỊ

VAI TRÒ CỦA CƯ SĨ PHẬT TỬ TRONG SỨ MỆNH HOẰNG PHÁP

Đăng lúc: Thứ tư - 25/11/2015 11:45 - Người đăng bài viết: Ban Biên Tập
"Này các Tỳ kheo!...Hãy lên đường vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. Các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngả, hãy truyền bá chánh pháp...Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; Được vậy là các ông đã hoàn tất nhiệm vụ" .
Hình ảnh minh họa

Hình ảnh minh họa

Sau khi thành đạo dưới cội Bồ Đề, Đức Phật liền muốn nhập Niết bàn bởi vì Ngài thấy
giáo Pháp mà Ngài vừa chứng ngộ quả thật thậm thâm vi diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, không nằm trong phạm vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện tri thức mới thấu hiểu. Trong khi đó chúng sanh còn luyến ái trong nhục dục ngũ trần nên khó bề tiếp nhận, rồi đem tâm xem thường mang tội hủy báng chánh pháp.
     Nhờ sự thỉnh cầu của Phạm Thiên Sahampati và căn cứ theo phương thức giáo hóa của bảy đời Đức Phật trước. Thế Tôn bèn nghĩ đến việc truyền bá chánh Pháp. Đức Phật tuyên bố: "Cửa vô sanh bất diệt đã mở ra cho chúng sanh. Hãy để cho ai có tai muốn nghe đặt trọn niềm tin tưởng" (1)và sứ mệnh hoằng pháp được Thế Tôn bắt đầu từ đó, bài Tứ Diệu Đế cho nhóm Ngài Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển là bài pháp đầu tiên mang nhiều ý nghĩa trọng đại.
Trong suốt 49 năm, bước chân Ngài đã dạo khắp các vùng Ấn Độ, dù là chốn đô hội thị thành hay các vùng thôn dã, núi rừng đầy sơn lam chướng khí, tùy phương tiện mà hóa độ khắp tất cả chúng sanh, bình đẳng không phân biệt giai cấp từ các bậc vương giả như vua Tần Bà Sa La đến các hạng cùng đinh, hạ tiện như người chuyên làm nghề gánh phân. Đây là chỗ đặc thù nhất trong Phật giáo chúng ta. Ý này được diễn tả trong kinh Pháp Hoa phẩm Dược Thảo Dụ:"Giáo pháp của Ngài như trận mưa lớn, tất cả các loại cỏ cây đều được thấm nhuần". Cho nên thật nghĩa của hoằng pháp là làm sao cho tất cả chúng sanh được giác ngộ, lìa khổ được vui. Đây cũng chính là hoài bảo của Đức Phật kể từ thời ngài còn là Thái tử.
   Trước Tăng đoàn mới thành lập với 60 Thánh Giả chứng đắc quả A La Hán. Đức Phật đã có lần kêu gọi: "Này các Tỳ kheo!...Hãy lên đường vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. Các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngả, hãy truyền bá chánh pháp...Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; Được vậy là các ông đã hoàn tất nhiệm vụ" (2)
   Lời dạy tha thiết này của Đức Thế Tôn đã trở thành tuyên ngôn, là cương lĩnh, nêu rõ mục đích, động cơ của việc hoằng pháp và cũng là sứ mệnh của những người con Phật.
    I. Cư sĩ Phật Tử với việc hoằng pháp:
    Hoằng pháp là nghĩa vụ thiêng liêng của người con Phật, bởi vì đây chính là hoài vọng của Đức Phật "Vì lợi ích của số đông vì thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc của chư Thiên và loài người". Do đó, sứ mệnh hoằng pháp vô cùng quan trọng và không phải là việc riêng của người xuất gia. Chính người Phật tử tại gia ngay từ thời Phật còn tại thế đến nay, dù ở bất cứ quốc gia nào, thời đại nào, sinh hoạt trong giáo hội hay hệ phái nào, cũng đã đóng một vai trò vô cùng trọng yếu trong tất cả các sinh hoạt của Phật giáo. Trong đó phải kể đến việc hoằng pháp.
   Từ trước đến nay, hàng đệ tử Phật cơ bản có bốn chúng: xuất gia có hai chúng (Tỳ kheo, Tỳ Kheo Ni) , tại gia cũng có hai chúng (Ưu bà tắc, Ưu bà di). Trong kinh Pháp cú, Phật dạy: "Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu..." nghĩa là Tăng, Ni, cư sĩ nam nữ đều phải thực hành : cùng học, cùng thực tập và cùng hoằng pháp; đủ cả ba phần như vậy mới là trọn vẹn ý nghĩa chữ tu trong đạo Phật. Và như thế, thì quý Tăng Ni là những người truyền bá Chánh Pháp, còn cư sĩ là những người "Đem đạo vào đời, sống đạo nơi đời", đúng là phụng hành Chánh pháp và hoằng dương Chánh pháp vậy.
   1. Trước hết ta cần biết: Cư sĩ là ai?
   Theo định nghĩa phổ quát của các hệ phái Phật giáo: Cư sĩ là người tại gia theo đạo Phật, đã quy y Tam bảo, giữ gìn năm giới và hộ trì Tam Bảo. Chữ cư sĩ được dịch từ chữ gahapati trong tiếng pali đồng nghĩa với từ upãsaka (ưu-bà-tắc), upãsikã (ưu-bà-di), dịch nghĩa phổ thông là cận sự nam, cận sự nữ (những người thân cận hộ trì Tam Bảo). Các từ thông dụng khác trong tiếng Việt là: Phật tử, thiện nam, tín nữ, thí chủ, đàn việt,...Chữ cư sĩ trải qua thời gian, mặc nhiên được xem là từ ngữ phổ thông nhất chỉ cho những người Phật tử tại gia đang học Phật, tu Phật và phát tâm hộ trì Tam Bảo.
    2. Vai trò của cư sĩ Phật tử trong việc hoằng pháp:
    Định danh cư sĩ Phật tử ở trên, cho ta nhận dạng được nhân cách đặc biệt của người cư sĩ Phật tử. Nói chung cư sĩ là người tại gia phát nguyện quy y Tam Bảo, giữ giới và thực hành bố thí, học và thực hành Phật Pháp trong đời sống hằng ngày để lợi mình, lợi người.
  Theo ý nghĩa hoằng pháp là duy trì và truyền bá giáo lý vi diệu của Phật, nên thực hiện tốt các yếu tố của người cư sĩ (Tín, giới, thí) thì chính là đã thực hành sứ mệnh hoằng pháp.
    a. Quy y Tam Bảo chính là hoằng pháp:
   Trở về nương tựa với Phật, tin nơi Phật tánh sẵn có của mình, lấy việc thành Phật làm cứu cánh tu học. Trở về nương tựa với Pháp tin tưởng giáo lý của Phật có khả năng giải thoát, khổ đau, đem lại hạnh phúc cho mình, cho người. Trở về nương tựa Tăng, tin tưởng Tăng là đoàn thể xuất gia đạo hạnh, dấn thân trên con đường của Phật và dẫn dắt mọi người đi theo con đường đó một cách vững chắc. Tin tưởng một cách sâu sắc như vậy thì người cư sĩ tự  hình thành "Tâm Bồ Đề kiên cố, chí tu học vững bền", tự nêu được một tấm gương sáng, khích lệ người thân tin theo. Phật pháp nhờ vậy mà được tồn tại và những giá trị của Phật pháp nhờ đó sẽ mỗi ngày một lan tỏa vào trong đời sống xã hội.
    b. Giữ giới chính là hoằng pháp:
     Việc giữ giới của cư sĩ là tự nguyện từ bỏ những điều sai quấy, trái với giới luật Đức Phật chế ra, nhằm ngăn ngừa tội lỗi gây nên những phiền não trong đời sống bản thân, gia đình và xã hội. Giữ nghiêm giới luật sẽ tạo cho con người có phẩm cách đạo đức, khiến cho người khác tin tưởng, quý trọng và noi theo.
   Năm giới cấm là nấc thang đầu tiên tiến đến quả vị giải thoát. Người giữ năm giới nghiêm minh thì không những tạo được phước quả ngay trong đời này và cả đến đời sau, mà còn là bài học không lời (thân giáo) đối với tha nhân.
   Ảnh hưởng của Phật Pháp đối với cộng đồng xã hội có thể được nhận xét và đón nhận trực tiếp qua nhân cách của người cư sĩ Phật tử giữ gìn năm giới. Đó chính là hoằng pháp vậy.
   c. Thực hành bố thí chính là hoằng pháp:
      Bố thí là hành động cụ thể mang lại lợi ích cho tha nhân. Bố thí đứng hàng đầu trong Tứ Nhiếp Pháp mà Đức Phật đã dạy cho hàng đệ tử phương pháp nhiếp hóa chúng sanh và cũng đứng hàng đầu trong Lục Độ. Điều này cho thấy bố thí không phải là việc hành thiện bình thường mà là một pháp môn tu, là phương tiện thiện xảo của hàng Bồ Tát nhằm cứu độ và cảm hóa chúng sanh.
  Bố thí gồm: Tài thí, Pháp thí và vô úy thí. Về phương diện tu tập, bố thí chế được tâm tham lam, bỏn sẻn, một trong tam độc tạo nên phiền não, khổ đau và làm cho tâm từ được phát triển . Về phương diện lợi tha, bố thí sẽ giúp vơi đi sự đói khổ, thiếu thốn, định hướng tu tập, làm chủ cuộc đời và đem đến an vui, hạnh phúc cho tha nhân.
   Bố thí bằng tất cả tình thương, không hề có mảy may toan tính, nghĩa cử này sẽ làm cho tha nhân đón nhận chất liệu Từ Bi của đạo Phật qua việc bố thí.
    Vậy qua Tín, Giới, Thí trình bày ở trên, người cư sĩ mặc nhiên đã thực hiện việc hoằng pháp trong đời sống hàng ngày.
   Ngoài sự "mặc nhiên" trên, có những trường hợp người cư sĩ thực hiện hoằng pháp một cách chủ động :
    Chúng ta đã biết hoằng pháp đối với người cư sĩ quan trọng như đã phân tích ở trên, còn đối với hàng xuất gia nó đã trở thành lý tưởng, một trong hai mục tiêu cơ bản "Thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh". Muốn thực hiện việc hóa độ chúng sanh, phải kể đến việc dấn thân hoằng pháp. Đối tượng hoằng pháp của chư Tăng Ni là ai? là những người cư sĩ , là những người tin Phật đến chùa, vậy những người chưa đến chùa sẽ dễ bị bỏ quên nếu không có cư sĩ Phật tử hoằng pháp.
    Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta đang thừa hưởng văn minh, tiến bộ của nhân loại để phát triển, thế nhưng, những "tác dụng phụ"của sự mở cửa và nền kinh tế thị trường chính là sự tha hóa một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên đang có nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc và bao nguy cơ, khủng hoảng khác,...Tập hợp bộ phận thanh thiếu niên này nói riêng và lứa tuổi thanh thiếu niên nói chung, chư Tăng Ni không có lợi thế bằng cư sĩ. Tại Việt Nam Tổ chức Gia Đình Phật Tử, một tổ chức giáo dục Thanh Thiếu Đồng Niên đã ra đời cũng chính từ trong bối cảnh ấy. Với tôn chỉ mục đích đúng đắn, có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. có đội ngũ Huynh Trưởng là những cư sĩ phật tử có tâm huyết, yêu trẻ, có năng lực đã đào luyện và cung cấp cho xã hội biết bao người công dân tốt, và cũng có rất nhiều bậc giáo phẩm Tăng, Ni trong giáo hội mà Tổ chức GĐPT chính là duyên khởi đầu để các vị tiến bước trên lộ trình tìm cầu Phật đạo. Như vậy Huynh Trưởng và đoàn sinh GĐPT đã góp một phần to lớn trong sứ mệnh hoằng pháp.
     II. Đóng góp của cư sĩ mọi thời cho công cuộc hoằng pháp:
    Trong quá khứ không thiếu các cư sĩ nổi danh thời Phật tại thế như: Vua Ba-Tư-Nặc, trưởng giả Cấp-Cô-Độc, tín nữ Tỳ-Xá-khư. Sau thời Đức Phật có đại cư sĩ A-Dục-Vương, ở Trung Hoa có Lương Võ Đế, Lương Khải Siêu. Ở Việt Nam thờ Lý Trần có: Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ. Thời Hậu Lê có: Nguyễn Trãi. Thời Trịnh Nguyễn có: Ngô Thời Nhậm, Nguyễn Du. Thời cận đại, hiện đại có các cư sĩ danh tiếng như: Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, cư sĩ Mai Thọ Truyền, Lê Văn Định, Thiều Chửu, Đoàn Trung Côn,...nhiều cư sĩ Tây Phương hiện đại, một số cư sĩ có thể thuyết giảng hoặc viết sách, biên khảo về giáo lý nhà Phật hoặc góp phần hoằng pháp qua văn học, nghệ thuật. một số trường hợp là thầy dạy tại các trường Phật học.
  Nói chung cư sĩ từ xưa đến nay, tùy theo hoàn cảnh cũng đã đóng góp to lớn trong công cuộc hoằng pháp độ sanh.
    III. Kết Luận:
      Sở dĩ bao thế kỷ qua, mọi người được hiểu đạo và hướng về Phật pháp là do công hoằng hóa của các bậc Tổ đức từ bao đời trước. Quý Ngài đã tận tâm, tận lực trong sự nghiệp giáo hóa chúng sanh giữa đời ngũ trược cang cường, nên họ mới chịu qui hướng theo con đường Phật Pháp, tu tập.
   Đạo nếu không giữ thì sẽ bị mất. Vì vậy, cá nhân mỗi cư sĩ cũng góp phần quyết định sự thịnh suy, mất còn của Phật Pháp. Cho nên, có thể nói rằng việc truyền bá chánh pháp, đem đạo vào đời, Tăng Ni gián tiếp, Cư sĩ trực tiếp. Trực tiếp ở đây là trong 24 giờ, người cư sĩ sống và tiếp cận với con người trong gia đình và xã hội, trải nghiệm những khổ đau, hạnh phúc, phiền não, an lạc, được, mất, hơn, thua...Đời người cư sĩ do vậy là cuộc dấn thân, trắc nghiệm sở tri và nội lực tu học của mình ngay trong kiếp nhân sinh vô thường, thống khổ. Chính cuộc dấn thân ấy là giữ đạo, truyền đạo, là vai trò hoằng pháp của người cư sĩ vậy.
   _______________________________________________________________________
 Cước chú:
   (1): Đức Phật và Phật Pháp: Nãrada Mahã Thera Phạm kim Khánh dịch nhà xuất bản Tôn Giáo. Trang 77.
   (2): Mahàvaga - Đại phẩm, Luật Tạng, chương trọng yếu, tụng phẩm thứ 2, đoạn 32. Bản dịch của Indancada Nguyệt Thiên, http:www.budsas.org/uni/u-daipham/dp-00.htm
Tác giả bài viết: Tâm Ninh Hoàng Công Hiền
Nguồn tin: http://phatgiaoquangtri.com
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
1

LIÊN KẾT LAM

   
 

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 34
  • Hôm nay: 1757
  • Tháng hiện tại: 50639
  • Tổng lượt truy cập: 3905337