1
CHÀO MỪNG ANH CHỊ EM LAM VIÊN GHÉ THĂM TRANG NHÀ LAM THÀNH CỔ - QUẢNG TRỊ

Ý nghĩa - LỤC HÒA

Đăng lúc: Chủ nhật - 01/11/2015 19:35 - Người đăng bài viết: Ban Biên Tập
Lục hòa là sáu phương pháp rất hữu ích và thiết thực, cũng là một mô hình gương mẫu, để chúng ta xây dựng một tăng đoàn, một đoàn thể hay một gia đình…Nó có lợi ích lớn cho bản thân, cũng như những người xung quanh, tạo một cuộc sống tươi đẹp, và thăng tiến đến sự an vui và giải-thoát.
Ý nghĩa - LỤC HÒA

Ý nghĩa - LỤC HÒA

A- Dẫn nhập
     Sau khi Đức Phật thành đạo tại cội Bồ đề, Ngài đến vườn Lộc Uyển thuyến pháp độ năm vị Kiều Trần Như. Từ đó tam bảo được hình thành, gồm có: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Trãi qua 12 năm đầu vì tăng chúng hòa hợp sống trong tự giác, nên Phật chưa có chế giới. Mãi đến năm thứ 13 vì tăng chúng đông đúc, có nhiều chuyện không hay xãy ra nên Phật chế giới. Trong đó Lục hòa được Đức Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần, mục đích là để cho sự tồn tại và duy trì một cách lâu dài trong chánh pháp.
 Từ đó, Lục hòa được áp dụng trong các tự viện, thiền môn, chùa, tịnh xá, niệm Phật đường…Sống trong sự thanh tịnh để tiến trên con đường giác ngộ và giải thoát cho tự thân và tha nhân.
Sự sống lý tưởng ấy, chẳng những được áp dụng trong khuôn khổ thiền môn, mà trên toàn thế giới cũng đang áp dụng một cách thiết thực, để tốt cho mình và mọi người. Tuy nhiên, cuộc đời luôn luôn thay đổi, con người cũng vậy, bất như ý, lúc buồn lúc vui, lúc giữ được lúc không giữ được “ Lực bất tùng tâm”. Nên khó có thể tồn tại được một cách như ý.
Vậy, muốn thực hiện một lý tưởng cao đẹp, không gì hơn là phải áp dụng một mô hình tổ chức, một nghệ thuật sống, mà trong đó mọi người đều hưởng được sự lợi ích, công bằng dân chủ một cách tuyệt đối: Đó là Lục hòa cộng trụ.

I-Định nghĩa
        Lục là sáu, Hòa là hòa hợp, hòa kính.
       Lục hòa là sáu phương pháp, sáu nghệ thuật sống chung hòa hợp, thương yêu đùm bọc lẫn nhau từ vật chất đến tinh thần, từ lời nói đến hành động, từ tư tưởng với tư tưởng... Tất cả sống chung an lạc dưới mái ấm thiền môn,  sống trong sự an vui và giải thoát.

     1-Thân hòa đồng trụ:
 Thân hòa hợp cùng ở chung. Sống chung trong một cộng đồng, một gia đình, khó tránh khỏi những sự va chạm lẫn nhau. Trong giáo pháp Đức Phật, dù cao quý như Thế Tôn, quý tộc như A nan, Đề Bà Đạt Đa; cho đến người thợ hớt tóc như Ưu Ba Ly, kẻ có quá khứ đầy tội lỗi như Vô Não, tất cả cùng hòa hợp, sống với nhau như nước với sữa trong ngôi nhà chánh pháp. Nhờ áp dụng được nếp sống Lục hòa , cho nên sự sống rất hòa thuận như nước trăm sông đổ về biển cả, mà nước trong bốn biển đại dương chỉ có một vị; là vị mặn. Cũng vậy, giáo pháp của đức Phật chỉ có một vị là vị giải thoát. Câu Phật ngôn nổi tiếng.
 “ Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, và nước mắt cùng mặn Đủ nói lên tinh thần này. Ca dao Việt nam cũng có câu :
“ Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

 
Khi sống được với tinh thần Lục hòa, sự thanh cao và đẹp đẽ của những vị ấy đều được mọi người tôn kính, và được đứng vào hàng bậc chúng trung tôn. Đó là hình ảnh mà Đức Phật sống trong tăng đoàn suốt 49 năm cùng 1250 vị Tỳ kheo. Hình bóng ấy hiện nay vẫn còn in đậm nét trong những thiền môn, mà các vị cao tăng đang duy trì. Nhờ đó mà nếp sống vẫn cao đẹp trong sự an vui và giải thoát.

      2/ Khẩu hoà vô tranh:
       Lời nói là biểu hiện của tâm tư và nguyện vọng, nó thể hiện tâm lý của con người trong mối quan hệ với nhau qua lời nói. Tuy nhiên, sự ý thức của con người rất quan trọng trong cuộc sống, khó có thể giữ được một cách trọn vẹn, trừ những vị có ý thức cao, mới có thể sống chung hòa hợp mà không tranh cãi.
       Thông thường khi bất hòa, người đời đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi. Những lời nói cay độc khiến đối phương phải đau khổ, thậm chí còn tuyệt vọng, có khi mất mạng. Thế nhưng, làm như vậy kẻ thua đau khổ đã đành, người thắng cũng chẳng vui sướng gì, chưa nói đến nghiệp quả mà người đó phải chịu, do gieo lời nói ác. Các bậc tổ đức đã dạy
“ Phù sỹ xử thế phủ tại khẩu trung.
 sở dĩ trảm thân do kỳ ác ngôn”
( luận về con người ở đời, lưỡi búa nằm trong miệng, sở dĩ chém mình là do lời nói ác).
Đạo nho cũng dạy:
 “ Bịnh tùng khẩu nhập,.
  họa tùng khẩu xuất”.
 ( Bịnh từ miệng vào, họa từ miệng mà ra).
  Trong giáo pháp Đức Phật, hành giả dùng lời hòa ái để giải quyết những bất hòa xẩy ra. Nói nhẹ nhàng hòa ái, mà không sai sự thật, nói đúng thời đúng lúc, đúng đối tượng. Nên Ca dao có câu:
“ Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

 
     3/ Ý hòa đồng duyệt:
     Tức là tư tưởng cùng chung một quan điểm, một nhận thức và cùng chia xẻ ý kiến với nhau, để xây dụng một vấn đề cho được hợp tình, hợp lý. Tuy nhiên, tâm thức của chính mình cũng tự mâu thuẫn với nhau, vừa lúc lé lên một ý tốt, hợp lý hợp tình, xong vừa lúc đó lại có một ý khác nỗi lên làm thay đổi tư tưởng. Nên duy thức học nói:
Ý là hệ trọng hơn hết, nó là động cơ thúc đẩy miệng và thân. Kể công thì nó cũng đứng đầu, mà kết tội thì nó cũng đứng trước”. Cho nên trong kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu nối:
“ Trong các pháp do tâm làm chủ.
Tâm dẫn đầu tạo đủ nghiệp duyên.
Tâm nhơ thì nghiệp chẳng hiền.
Như xe lăng bánh khổ liền theo sau”
      Vậy, muốn thanh tịnh tuyệt đối cần phải giữ gìn và tôn trọng giới pháp Lục hòa, tôn trọng ý kiến hay, ý kiến đẹp của mọi người, và biết hòa hợp vui vẻ trong mọi lúc mọi nơi.
        Trong các cuộc hộp, hội thảo, hay bàn luận về một vấn đề gì, người nói thường có xu hướng bảo thủ quan điểm của mình. Tục ngữ có câu “ chín người mười ý”. Từ đó xẩy ra bất hòa, xung đột, chia rẽ.
        Thực chất mỗi ý kiến đều có cái hay riêng, nếu biết lắng lòng nghe, tiếp thu, dung hòa các ý kiến khác lại với nhau, chúng ta sẽ có những bài học thiết thực trong cuộc sống. Tinh thần cầu học của người con Phật không phải “ Chín người mười ý” mà “mười người, trăm người, thậm chí ngàn người một ý”,qua tinh thần Yết ma của Tăng là tiêu biểu.
        Trong Trường Bộ Kinh, Phẩm Bảy Pháp, Đức Phật dạy một trong những điều kiện làm cho chánh pháp hưng thịnh tại thế gian cho chư Tăng:
        “ Hội họp trong đoàn kết, giải tán trong đoàn kết và làm việc trong đoàn kết”.
       Nếu ý kiến mình đúng pháp, với lòng thành và tâm xây dựng, thì mọi người sẽ ủng hộ cho mình.

   4- Giới hòa đồng tu:
    Giới là những quy luật đạo đức, được xem như là phương tiện để ngăn chặn và đoạn trừ những điều ác, tác động qua thân, khẩuý. Nói một cách khác, Giới là phương tiện để tu các pháp lành và độ tất cả chúng sanh.  Giới cũng là nền tảng để sanh Định, có định rồi thì mới phát Huệ. Đó cũng là nền tảng của “Tam Vô Lậu Học”, mà ba đời chư Phật nương nơi đây mà thành Vô thượng Bồ đề. Cho nên nói:
          “Cội tâm lấy giới làm đầu.
            Lắng tâm lấy định, dựng xây đạo tràng.
            Rõ tâm lấy huệ soi đàng.
            Tâm không cảnh tịnh, Niết bàn an vui”.
     Là đệ tử Phật, cùng hòa hợp tu tập trong giới luật Phật chế. Đức Phật chế giới luật, làm thanh tịnh tam nghiệp và chỉnh đốn Tăng già.
     Trong giới luật, mọi người đều bình đẳng như nhau, cá nhân nào nếu phạm giới cũng đều bị Tăng nghiêm xử không thiên vị. Cho nên, trong Tăng đoàn mọi thành viên cùng lãnh thọ giới pháp như nhau, thì nên như pháp nhắc nhở nhau, dìu dắt nhau tu học. Mọi sự bất hòa đều xử theo luật. Giữ đúng giới pháp, tức ba nghiệp được thanh tịnh, thì chuyện bất hòa xung đột, hiếm khi xẩy ra. Từ đó, góp phần vào làm hưng thịnh Phật pháp, hòa hợp Tăng già. Vì
      “  Giới luật là thọ mạng của Phật pháp.
          Giới luật còn thì Phật pháp còn”.

 
       5-  Kiến hòa đồng giải:
       Nghĩa là khi có ý kiến gì hay mới lạ, phải giải bày và trao đổi để cùng nhau tham khảo. Nếu hợp tình hợp lý, lợi cho mình, lợi cho người, trong hiện tại cũng như trong tương lai, thì nên áp dụng vào trong tăng đoàn để cùng nhau thực hiện. Chia xẻ sự hiểu biết của chính mình, là giúp cho mọi người thêm một nghị lực sống đẹp,  cùng hòa hợp trong kiến giải tu tập.  Trong cuộc sống tu tập, mỗi khi nghe một câu kinh hay một kiến giải tốt hoặc một việc làm có ý nghĩa…thì đem ra bàn bạc và thảo luận, để mọi người cùng nhau tiếp nhận và học hỏi. Sau đó tổng hợp lại, cô động thành ý tưởng thiết thực nhất, để áp dụng vào cuộc sống tu tập và làm Phật sự.
     Kiến hoà đồng giải, rất quan trọng trong đời sống của tăng đoàn,  trong chúng mỗi người là mỗi cái biết riêng biệt, và sự hiểu biết có sai khác. Nếu không áp dụng điều này, thì khó có thể thành công và duy trì đạo pháp được. Nhờ sự nương nhau từ trên xuống, cũng như từ Phật, tổ truyền lại, mà đạo Phật được tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay, ở trong công việc cũng như trong sự tu tập. Từ đó, mỗi người mới nhận được yếu chỉ từ người khác với tâm từ, để cùng nhau giác ngộ trong chánh pháp của Đức Như Lai.

      6/ Lợi hòa đồng quân:
Nghĩa là lợi dưỡng cùng chia đều cho nhau, không được chiếm làm của riêng hay dành phần nhiều, phần tốt về mình, cũng không nên vì tình cảm riêng tư, mà chia kẻ ít người nhiều, kẻ có người không, kẻ được người mất…Nếu sử dụng tài vật của tam bảo một cách bất công, thì sẽ đưa đến sự tranh chấp, chia rẻ lẫn nhau.
 Vậy, chúng ta muốn hòa hợp, an vui một cách lâu dài, thì chúng ta phải sống trên tinh thần hòa hợp như nước với sữa, có nghĩa là không phân biệt, mà phải tôn trọng mỗi thành viên trong tăng đoàn, dù người đó không bằng những người khác. Với sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau trên tinh thần; thầy trò, huynh đệ, luôn cởi mở vui vẻ, tạo cho tăng đoàn có một sức mạnh đoàn kết trên tinh thần tự giác, giác tha, để duy trì mạng mạch Phật pháp một cách bền vững hơn trên con đường giác ngộ và giải thoát.
     
II- Sự lợi ích của Lục Hòa:
 Lục hòa là một mô hình, một khuôn phép được Đức Phật áp dụng trong tăng đoàn suốt trong thời gian đức phật còn tại thế, nó thể hiện qua ba tính chất căn bản đó là: Hy sinh, Nhẫn nhụcSiêng năng trên tinh thần hòa hợp.
 Hy sinh: Ngài là một đấng giác ngộ, là một bậc thầy của trời người. Nhưng Ngài vẫn sống bình đẳng với đại chúng, cùng đi khắc thực, cùng ngủ dưới gốc cây, cùng thọ hưởng ngang nhau…Hy sinh hết sự cao quý ấy mà sống Lục hòa cùng đại chúng.
Nhẫn nhục: Là sự chịu đựng nắng mưa, đầu trần, chân đất, đi hết làng này đến xốm nọ, phương tiện khất thực mà giáo hóa chúng sanh. Tuy nhiên, đôi khi cũng gặp nhiều cảnh khó khăn, họ không cúng mà lại phỉ bán, mạ nhục, du khống…Nhưng Ngài vẫn vui vẻ, dùng mọi phương tiện thiện xảo để  cho họ giác ngộ mà bỏ tà quy chánh.  Sự Nhẫn nhục của Ngài là một đức tính cao cả để độ tất cả chúng sanh trên tinh thần Từ bi Vô ngã.
Siêng năng: Là việc làm của Đức Phật sống trong suốt 49 năm cùng tăng đoàn. Nhưng không một ngày nào ngơi nghỉ, không có sự giãi đãi, không lười biếng, không tránh né hay đổ tội người khác…Từ đó Đức của Ngài cảm hóa được tất cả tà ma, ngoại đạo để trở về với chánh pháp mà sống trong sự Lục hòa.      
      Theo nghĩa của tăng già hòa hợp có hai nghĩa sau:
Sự hòa hợp: là sự sống chung của tăng già cùng nhau áp dụng và tôn trọng nếp sống Lục hòa một cách chặc chẽ. Lục hòa trên mọi hành vi ngôn ngữ và những hành động tôn kính pháp. Nói cách khác là một nhân cách sống lý tưởng cho mọi người noi theo.
Lý hòa hợp: tất cả chúng sanh đều có một lý tánh tuyệt đối, lý tánh ấy là Bản thể, Chơn như hay Phật tánh của chính mình, nhưng chưa nhận rõ được, nhờ giáo pháp Lục hoà mà  lý được hiển lộ một cách rõ ràng. Từ đó sống trọn vẹn trong giới đức, tâm đứchạnh đức nên Đức Phật dạy:
      “ Nơi nào có Lục hòa là nơi đó có những vị Bồ tát, sống nhiệp nhàng, hòa quang đồng trần, để tùy duyên hóa độ chúng sanh, hướng dẫn họ thăng hoa trên lộ trình giác ngộ”
        Với sự hy sinh cao cả ấy, hàng hậu học của chúng con đã và đang tắm mình trong ánh hào quang của chư Phật, và nương theo giáo lý tối thượng của Ngài, áp dụng Lục hòa trong tăng đoàn, cùng nhau bảo vệ, xây dựng và phát triển đạo pháp lớn mạnh, để cùng nhau tiến đến chỗ an vui và giải thoát.
 
   * Kết luận:
     Lục hòa, là sáu yếu tố để xây dựng và bảo vệ nếp sống của tăng đoàn, là nền tảng bảo vệ và duy trì Phật pháp bền vững, để phát triển trong hiện tại cũng như trong tương lai. Nhưng trọng yếu là hàng tăng già. Vì tăng già là những người gánh nặng mạng mạch Phật pháp để giáo hóa chúng sanh.
     Phật nhập diệt đã cách xa chỉ còn giáo pháp của Phật, mà giáo pháp của Phật là do tăng già hòa hợp mới giữ được. Muốn giữ được thì phải sống theo giới luật, mà giới luật chính là pháp Lục hòa.
      Vậy, chúng ta muốn được sự tốt đẹp hòa hợp trong mọi nơi, mọi chốn, thì phải áp dụng Lục hòa vào trong cuộc sống hàng ngày, chẳng những trong thiền môn mà tất cả mọi nơi. Nơi nào có Lục hòa thì nơi đó được sự vui vẻ, hòa nhã, thương yêu giúp đở lẫn nhau, đưa mình và mọi người đến chỗ chân thiện mỹ, và hòa quyện và xã hội đất nước, để cùng nhau xây dựng và phát triển cuộc sống mới theo nếp sống văn minh hiện đại hơn.
 
“ Hòa là sức mạnh vô song.
Nương đây mọi việc thành công khó gì.
Lục hòa yếu tố nhớ ghi.
Đây là nền tảng dựng xây hòa bình”. 
Tác giả bài viết: Thích Minh Lượng
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 
1

LIÊN KẾT LAM

   
 

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 15
  • Hôm nay: 1923
  • Tháng hiện tại: 50805
  • Tổng lượt truy cập: 3905503