CUỘC ĐẤU TRANH BẠO ĐỘNG 2-6-63
Theo bản cáo trạng của Thượng tọa Đôn Hậu trình lên văn phòng đại diện 5 cấp trị sự tại Từ Đàm, thì sự kiện xảy ra như sau :
(nguyên văn cáo trạng)
…Trong một đoạn thư đề ngày 2-6-63, tôi đã phản kháng ông Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị về âm mưu lừa gạt đồng bào Phật Giáo vào trong khuôn viên tuyệt thực do quân đội thiết lập bằng dây kẻm gai để hành hung, gây thương tích, khủng bố trắng trợn đồng bào Phật giáo Quảng Trị.
Để hiểu rõ sự việc, tôi xin gửi đến văn phòng 5 cấp trị sự một bản cáo trạng đầy đủ về nguyên nhân sự vụ và nhận xét của chúng tôi để trình thẫm tường.
- Động Cơ Sự Việc:
- Động cơ chính : Hai Thầy trị sự trưởng GHTG và cố vấn giáo hạnh đang tuyệt thực gần khu đất gần công trường Quảng Trị. Đối với hội viên và tín đồ Phật giáo, những kẻ mà họ thân cận, trìu mến, sùng kín nhất để tuyệt thực để đấu tranh cho tự do tín ngưỡng đương nhiên bổn phận thúc đẩy họ đến vấn an và thăm viêng quý Thầy. Nhưng họ đã bắt gặp một trở ngại bất ngờ. Tất cả ngỏ đường đi vào khu tuyệt thực đều bị rào chắn bởi dây thép gai, có lính canh gác phòng thủ. Họ bị cấm ngặt ngờ tuyệt đối không có người nào được viếng thăm, điều đó đã gây nên những bất mãn của họ đối với chính quyền.
Đành rằng, nhà chức trách lấy lý do bảo vệ quý Thầy để ngăn cản họ, nhưng họ thấy mâu thuẫn :
Phật tử là những kẻ đã và đang thực tâm bảo vệ quý thầy thị lại bị cấm đoán một cách khắt khe (không được thăm viếng, vấn an, cho dầu họ phải chịu những biện pháp hạn chế, trong lúc những kẻ đứng ra bảo vệ quý Thầy lại là những kẻ tỏ ý thật sự thù hằn đối với Phật giáo một cách rõ rệt. Như vậy, với ý tưởng chất phát, nông cạn, họ đã hiểu ngược lại cái ý nghĩa danh từ bảo vệ mà chính quyền đã nêu ra.
Cũng vì thế mà họ thấy quyền tự do của họ bị xâm phạm, tại sao là Phật giáo họ lại bị cấm đoán trong việc thăm viếng quý thầy là những kẻ họ thờ kính cung phụng.
Quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do công dân bị chà đạp, chính vì ý nghĩa đó mà họ cương quyết đấu tranh cho quyền hạn con người được ghi rõ trong hiến pháp.
Càng bị hăm dọa họ càng phản ứng mãnh liệt hơn.
- Động cơ phụ: Những câu đã kích có tính cách xúc phạm đến tín ngưỡng thốt từ miệng đám binh sĩ Võ trang kích thích thêm lòng căm phẫn của hội viên Phật giáo:
“Tuyệt thực chết như chó”
“Mấy đứa Phật Tử cha mẹ chết thì không khóc, còn mấy thằng này chưa chết đã khóc”.
“Tuyệt thực mà đánh nước cam”
“Cho nó tranh đấu, đói nó cũng về, còn mấy thằng nằm trong này cho nó chết”.
“Tranh đấu cho lắm rồi đây cũng chỉ có một đạo mà thôi”.
Còn gì hỗn xược và căm phẫn bằng những hình ảnh thiêng liêng của họ bị công khai xúc phạm. Sự căm hờn phát xuất từ đây.
Nếu như cầm quyền tỏ một thái độ đúng đắn hơn, không cho binh sĩ phỉ báng Phật giáo, hay giải thích với thiện chí mà không kỳ thị thì không bao giờ có phản ứng.
- Diễn Biến:
Vào sáng ngày 02/6/63 các Phật Tử Thị xã và thôn quê kéo tới khu tuyệt thực và xin phép được vào thăm quý thầy. Nhưng khi thấy thái độ thiếu hòa nhã của một số anh em Bảo An và Võ Trang đánh đập làm họ căm phẫn, một số đòi dẹp hàng rào để có lối vào.
Từ 8 giờ đến 10 giờ, chỉ có những sự xô xát nhẹ. Khảng 10 giờ hơn, một số công an mật vụ đem máy ảnh chụp hình, khủng bố. Đồng bào phản ứng bằng cách ném đá vào các nhiếp ảnh viên đang trà trộn vào trong đám lính võ trang. Sự xung đột bây giờ trở nên mãnh liệt. Quân đội đã dùng súng bắn đe dọa (4 phát súng lục) và dùng lựu đạn cay (hơn 20 quả) để giải tán.
Lòng căm phẩn lên cao, càng đẩy lùi họ càng nhào tới, vào khoảng 11 giờ, một chiếc xe Jeep Wagon màu xanh (do Ty trưởng công an Nguyễn Phùng) chở đến một số gậy ngắn phân phối cho anh em binh sĩ. Sau đó có tiếng gọi: “Đồng bào hãy yên tâm, chúng tôi sẽ dẹp đường cho đồng bào vào thăm, một lượt 20 người”
Và lần lượt các dây kẽm gai được cuộn lại, mở một lối nhỏ cho hội hữu đi vào. Nhóm người đầu tiên đi sau vào độ vài mươi thước thì có 3 trung đội đứng theo đội hình chữ U ngăn chặn đám hội hữu bằng những giọng hăm dọa và khiêu khích. Đồng bào cự tuyệt và cương quyết đòi cho được vào thăm, trong lúc đó từ vị trí chỉ huy, đại úy Nguyễn Hoành Bảo ra lệnh “cho đánh”.
Anh em binh sĩ và võ trang xông vào đám đồng bào đánh đập một cách cực kỳ tàn nhẫn và hung ác.
Đồng bào Phật Giáo tuy bị thương, nhưng cũng cố gắng đưa những kẻ thương tích trầm trọng ra khỏi phạm vi bố phòng của quân đội.
Những người bị thương nặng: Đỗ Thị Phương Mai.
Đỗ Hà.
Những người bị thương nhẹ: Lê Thị Trâm.
Lê Thị Hạnh.
Lê Thị Liên.
Và nhiều Phật Tử khác bị bầm tím mình mẩy.
Vào lúc 13 giờ, ban chỉ đạo hay tin cuộc tranh đấu có tính cách bạo động, trong đó một số đoàn sinh tự động tham gia, nên ban chỉ huy phái đạo hữu Trưởng Ban Hướng Dẫn đến tại chổ kêu gọi các đoàn sinh trở về và tiếp đó lại phái các Tăng sĩ lên kêu gọi tinh thần đấu tranh bất bạo động và yêu cầu hội viên giải tán.
(Trích trong phúc trình của Ban chỉ đạo).
LẬP TRƯỜNG VÀ THÁI ĐỘ CỦA BAN CHỈ ĐẠO
Bây giờ chính là lúc không còn phải che dấu gì nữa, nhưng xác thật, cuộc đấu tranh ngày 02/6/63 là một cuộc đấu tranh tự động của tín hữu Phật giáo. Nói tự động không có nghĩa là Ban chỉ đạo không biết, biết mà không can thiệp và không tỏ thái độ mà thôi.
Chính buổi sáng hôm ấy, một số đạo hữu trước khi lên thăm quý Thầy Cô ghé chùa Tỉnh Hội Quán và được Ban chỉ đạo giải thích về tinh thần bất bạo động. Trong lúc này, chính Thượng tọa Đôn Hậu cũng không biết khu tuyệt thực bị bao vây và không được vào thăm. Chính vì thế mà phản ánh đấu tranh tự động trên đây chỉ là phản ánh đấu tranh tình cảm tại chỗ, mà không có chủ trương hoặc sắp đặt trước.
Chính quyền Quảng Trị có lý khi rêu rao rằng cuộc đấu tranh bạo động này do Ban chỉ đạo hay Ban Hướng Dẫn xúi dục, nhưng họ đâu có hiểu rằng lý do tình cảm là lý do cốt yếu nhất quyết định thái độ sống chết của họ.
Chúng ta thấy rõ ý nghĩa đó trong đoạn kết thúc bản cáo trạng:
“Chúng tôi cật lực bênh vực cho hội viên Phật giáo trong cuộc đấu tranh hợp lý của họ, mặc dầu cuộc đấu tranh tự động không do mệnh lệnh trực tiếp của chúng tôi”.
Họ chỉ là những kẻ thật thà chất phác, hành động từ những suy xét giản dị nhưng thiết thực, chính vì vậy mà dễ bị kích thích của những kẻ ở ngoài, lợi dụng tinh thần đấu tranh cao độ để gây tình trạng bất hợp pháp.
Họ vì sự chất phác nói trên, nên dễ bị lường gạt, nhẹ dạ mà sa vào cạm bẩy để bị hành hung, trong lúc những phần tử phá rối, gây hại, ném đá dấu tay, lại nằm ngoài và không chịu một tai họa nào.
CHUNG QUANH VỤ 2/6/63 – NGUYÊN NHÂN GÂY RA
+ Khi cuộc đấu tranh mới phát khởi, ông Tỉnh trưởng có lẽ cũng tiên liệu được sự việc phải đến, nên đưa một văn thư xuống Ban chỉ đạo, yêu cầu cử đại diện của Tỉnh hội để lập một bản kiểm chứng hỗn hợp gồm 3 cơ quan: Y tế, Hành chánh và Tỉnh hội để kiểm chứng sự tuyệt thực của quý Thầy.
Đối với đề nghị này, Ban chỉ đạo đã bác bỏ lí lẽ.
– Đối với tuyệt thực có mục đích đòi chính phủ phải giải quyết 5 nguyện vọng của Phật Giáo thì chính phủ phải chịu trách nhiệm về tính mạng của quý Thầy. Phật Giáo không chịu trách nhiệm gì về việc đó.
– Ban này không có thẩm quyền giải quyết việc viếng thăm của các đạo hửu, nên không có tác dụng gì.
+ Giữa lúc tình hình căng thẳng, theo đề nghị của đạo hữu Hội trưởng, Thượng tọa Đôn Hậu chấp thuận mượn xe của ty Thông tin để kêu gọi giải tán đồng bào tụ tập tranh đấu. Nhưng Ty này bắt buộc phải kiểm duyệt trước những lời lẽ phát thanh, hoặc thu sẳn vào băng ghi âm để cho đi truyền bá khắp nơi.
Sự kiện này làm cho ban chỉ đạo khó chịu, vì nhất cử nhất động đều bị chính quyền ước thúc, thiếu thiện chí nhất là thiếu tín ngưỡng. Vì vậy mà ban chỉ đạo đã từ chối mặc dầu xe phóng thanh đã được đưa về túc trực ở chùa.
+ Tinh thần của số trật tự viên tại khu tuyệt thực (đoàn Gia Lam) đáng khâm phục. Bên ngoài đồng bào đấu tranh bị đàn áp, đánh đập, tiếng chưởi rủa, tiếng la ó, đi đôi với tiêng súng nổ, tiếng lựu đạn gầm, họ đã sôi gan nhất quyết liều sống chết với đám lính võ trang kia, dẫu trong tay không có một tấc sắt. Nếu không có sự can ngăn kịch liệt của quý Thấy chắc họ đã giám nổi loạn để chống với những con người bạo tàn.
Bên trong họ bị đe dọa đủ thứ, mật vụ mới chụp hình điều tra nhân mạng, thân thể, cơm nước không tiếp tế vào được, nhịn đói nhịn khát mà không nao núng tinh thần, chỉ làm tròn nhiệm vụ đối với quý Thầy. Uy lực của các nhân viên cao cấp trong chính quyền Tỉnh trưởng, Phó Tỉnh trưởng…) không được tôn trọng bằng uy lực của cấp điều hành trong Phật giáo. Trước cấp điều hành của họ thì họ nhu mì bao nhiêu trái ngược lại trước uy vũ chính quyền, họ càng ngổ ngược khinh thị bấy nhiêu.
Với tinh thần kỷ luật, họ tự động ghép chặt hàng ngũ, tự động tuân theo kỷ luật mà tự họ thiết lập ra.
+ Đội trật tự Gia Lam này, sau đợt 2 tuyệt thực trở về phò tá quý Thầy tại chùa và vẫn giữ riêng nề nếp sinh hoạt và đặc tính phục vụ của mình. Họ phụ trách trật tự trong khu tuyệt thực tại chùa, khu này được bảo vệ hết sức chu đáo và cẩn trọng.
CUỘC BAO VÂY TRONG TÒA TRƯỞNG
Cuộc bao vây chùa khởi sự bằng một đòn tâm lý rất mạnh. Từ 5 giờ sáng, một đoàn thiết vận xa rầm rộ kéo đến bao vây quanh chùa, đóng án ngự trước cổng chùa, tất cả mũi ang đều hướng vào trong như sẵn sàng nhả đạn. Lính tráng lưỡi lê tuốt trần, đứng bố trí theo thế tấn công. Người ta có cảm giác đây là một cuộc công đồn thực sự.
Nhưng nhìn vào sân chùa?
Đoàn Phật tử áo Lam vẫn hiền lành tập họp giữa sân và những bản nhạc vui tươi, hài hước vẫn thanh thản bay ra, như trêu, như ghẹo.
“Nào anh em cùng ra đây xem chúng ta đua nhau chơi kèn…”
Các anh lính kia, các anh nghĩ gì? Có lẽ cũng buồn tình vì thái độ dọa dẫm không gây sợ hãi cho ai, đoàn thiết vận sa lại rầm rộ rút lui sau hơn 1 giờ 30 bố trí.
Nhưng sau đó, cuộc phong tỏa thực sự bắt đầu.
Nhận thấy tình trạng phong tỏa có thể kéo dài, Ban trật tự bắt đầu chỉnh đốn lại tổ chức và thực hiện những kiểm soát tinh vi và khoa học hơn.
Thường xuyên có 2 Ban trật tự, mỗi ban ước chừng 60 người, phân công nhau thường trực canh gác tại cổng, hay túc trực sẵn sàng để ứng phó kịp thời với những gây rối. Ngoài 2 Ban trật tự này còn có Ban Hỏa Vụ lo việc trai soạn cho hơn 150 HTr ngồi trú tại chùa để tham gia cuộc tranh đấu.
CHÍNH SÁCH KHỦNG BỐ CỦA CHÍNH QUYỀN
Phải khách quan mà nhìn nhận rằng, việc phong tỏa chùa Tỉnh Hội nhằm mục đích:
Cắt đứt liên lạc giữa các chi, khuôn với Tỉnh Hội để chặn đứng các cuộc biểu tình từ thôn quê kéo đến.
Tung các dư luận vu khống, chia rẽ để đã phá uy quyền tinh thần của Tổng Hội Phật giáo ở hương thôn.
Đình trệ các việc buôn bán để gây phẫn uất cho lòng dân oán ghét Phật giáo.
Gieo các tin thất thiệt để cho các gia đình có con em tham gia tranh đấu tại chùa phải sợ sệt, hoang mang nhụt tinh thần.
Đại để, các tin tức xuyên tạc như sau được cán bộ công an và thông tin mang ra phổ biến:
– Ban Hướng Dẫn đã ly khai Tỉnh Hội và chia rẽ, chống đối nhau trên chủ trương tranh đấu.
– Đạo hữu Nguyễn Khắc Ủy, Tư Đồ Minh, Trần Quang Toản là những thành phần bất mãn với Chính phủ liên lạc với Cộng sản để tổ chức đảo chánh (vì Đạo hữu Ủy là một cựu huyện ủy viên Cộng sản)
– Đạo hữu Ủy đã bị bắt giam, vì chính phủ bắt được đầy đủ những tài liệu bí mật liên lạc với Cộng sản.
+ Bên ngoài các hội hữu thường xuyên bị các luận điệu vu khống như trên lừa bịp. Mặt khác, những cuộc học tập công khai do các cán bộ thông tin tổ chức, hướng dẫn các tài liệu có tính cách phá hoại cuộc đấu tranh nhất là bản thông báo và hiệu triệu của Đỗ Cao Trí, thông cáo này nhắc lại sự giải quyết của Tổng thống Ngô Đình Diệm với phái đoàn Thiện Hòa trong dụng ý chia rẽ sâu sắc trong các cấp lãnh đạo Phật Giáo và gieo hoang mang cho hội hữu và quần chúng.
Thiết tưởng cũng cần nói đến sự mạt sát của Đỗ Cao Trí đối với thượng tọa Trí Quang, công khai vu khống thượng tọa là Cộng sản, tự phong lên lãnh đạo để gây rối với chính quyền.
Sau các cuộc học tập cán bộ chính quyền bắt buộc phải lập những kiến nghị phản đối công cuộc tranh đấu của Phật giáo.
+ Bên trong không khí khủng bố càng nặng nề hơn:
- Phao tin thất thiệt: Luôn luôn người trong chùa bị những tin thất thiệt tung vào gây hoang mang đến cực độ. Nào là những đoàn thanh niên Công giáo cảm tử hóa trang đột nhập vào quấy rối chùa, nào là Cộng sản lén lút gây ra tại chùa để đổ lỗi cho Chính Phủ, hay ngược lại Chính phủ sẽ sai lính đột kích vào chùa đổ lỗi cho Cộng sản.
Những nguồn tin này làm cho tinh thần Phật tử luôn luôn bị uy hiếp, phải sống trong tình trạng lo sợ thường trực, tính mạng bấp bênh. Trước những đe dọa có thể biến thành sự thực này, anh em chỉ biết phát huy tâm niệm hy sinh cuộc đời cho chánh pháp, siết chặt tình cảm thông trong tình đạo vị để chịu đựng những khắc khổ, những cam go.
Đáng trọng với tâm niệm trên, không ai tỏ ý thối thác và càng cam go, tinh thần phụng sự đạo pháp càng thể hiện mức hy sinh cao cả của anh chị em.
- Luận điệu trấn áp công khai: Mỗi sáng, trưa, chiều, tối, Ty thông tin Quảng Trị thường xuyên dùng máy khoách đại thanh đọc xỏ vào chùa những bài xã luận xuyên tạc tinh thần đấu tranh và đặt tổ chức Phật giáo vào thế đối lập với chính phủ, khởi loạn: Đại để luận điệu tuyên truyền: Đấu tranh cho ai? Đấu tranh để làm gì? Chia rẽ đấu tranh để được lợi cho Cộng sản…tiếp theo là những bản kiến nghị tuyên bố ly khai công cuộc tranh đấu, thỏa hiệp với Chính phủ.
ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH CHIÊU HỒI
Chính sách chiêu hồi được đem ra áp dụng đối với Phật tử đang tá túc trong chùa, chính quyền áp dụng những hình thức tiếp diễn như sau:
– Bắt buộc các gia đình có con cái tham gia tranh đấu tại chùa học tập để xác nhận rằng theo Phật giáo tranh đấu với Chính phủ là làm Cộng sản.
– Bắt buộc các gia đình này viết thư gửi đến chùa Tỉnh Hội (nhờ ông Tỉnh trưởng đưa qua) yêu cầu Tỉnh Hội phóng thích những người này ra.
– Viết đơn gửi ông Tỉnh trưởng nhờ ông can thiệp cho các Phật tử này được trở về với gia đình, khỏi bị giam giữ.
– Bắt cóc những phần tử ra ngoài phạm vi kiểm soát của ban trật tự:
Một số Phật tử khinh thường, thiếu đề phòng, sơ hở đi ngoài vi phạm kiểm soát của Ban trật tự bị bắt cóc, một số anh em vùng vẫy trốn thoát được. Số khác được đưa về Ty Công an giam giữ tra tấn… Nữ Phật tử cũng vậy. Những vụ bắt cóc này đã làm cho không khí căng thẳng và anh chị Huynh trưởng càng hoang mang dao động thêm.
Thái độ của người Thiên chúa giáo Quảng Trị: Nếu đồng bào Thiên chúa giáo sẵn sàng tin tưởng ở các linh mục thì nhìn theo thái độ của giám mục Ngô Đình Thục, chúng ta có thể giải thích về thái độ của đa số đồng bào Thiên chúa giáo ở đây. Thái độ đó hàm chứa những điểm phủ nhận 5 nguyện vọng trong một thông cáo ghi ngày 9/7/1963 Phero Martinô Ngô Đình Thục Tổng giám mục Huế. Thông cáo này không công nhận có công điện triệt giáo kỳ, không nhận có chế độ đặc biệt dành cho Thiên chúa giáo, không nhận có việc bắt bớ tín đồ Phật giáo, nói chung phủ nhận tất cả. Trong bản thông cáo gửi cho anh em binh sĩ này có câu: “Anh em binh sĩ thấy 5 điều trên hoàn toàn thất thiệt. Ta không nói cố ý là vu oan” chính vì thái độ mà đồng bào Thiên chúa giáo tại Quảng Trị đã có một quan niệm hết sức lệch lạc đối với công cuộc đấu tranh của tín đồ Phật giáo, thêm vào đó những luận điệu của cấp chính quyền áp dụng chính sách chia để trị, càng khơi thành hố chia rẽ tín đồ giữa hai tôn giáo, biến cuộc tranh đấu với Chính phủ nói chung thành cuộc tranh đấu tôn giáo.
Luận điệu chia rẽ:
Ngày 02/6/1963 Ban chỉ đạo có một mật văn gửi cho ông Ty trưởng tố cáo rằng trong cuộc đấu tranh bạo động tại khu tuyệt thực, có một số thanh niên Thiên chúa giáo của 2 thôn Trí Bưu, Thạch Hãn (mà chỉ Ban chỉ đạo biết sơ qua tánh danh một vài người) đã xen lẫn vào trong đồng bào Phật giáo, gây sự khiêu khích với quân đội (ném đá đập đầu binh sĩ) đáng lý mật văn này có tính cách tố giác để cho chính quyền giám sát, theo dõi, khám phá những thành phần bất hảo giữ an ninh trật tự chung, thì ông Tỉnh trưởng lại cho xe phóng thanh của Ty thông tin loan báo rộng rãi trong dân chúng, gây phản kích của đồng bào Thiên chúa giáo. Do đó mà có những luận điệu dọa dẫm nhau, hờn ghét nhau. (sự kiện này đã được Ban chỉ đạo tố cáo là dụng ý chia rẽ và yêu cầu đính chính)
Dư luận về các cuộc biểu tình của đồng bào Thiên chúa giáo.
Điều đã làm cho Ban chỉ đạo lo âu không ít là nguồn tin về các đoàn thanh niên Công giáo, đạo binh Đức Mẹ cải trang làm Phật tử để đột nhập vào chùa, nguồn tin trên đây có thể xác nhận là đúng nhất sau khi Ty Thông tin đã áp dụng chính sách chia rẽ, gieo phản kích trong đồng bào Thiên chúa giáo của thôn Trí Bưu và Thạch Hãn. Vì vậy mà Ban chỉ đạo còn phải đề phòng các cuộc biểu tình công khai của đồng bào Thiên chúa giáo chống lại Phật giáo.
NHỮNG VỤ QUAN TRỌNG
Trong thời gian đấu tranh từ khi xảy ra cuộc biểu tình tuyệt thực 16-6-1963 chúng tôi đặt vào đây những vụ quan trọng nhưng thật ra chẳng quan trọng gì xét theo quan điểm Phật giáo, nhưng thật quan trọng với quan điểm của chính quyền hiện giờ, vì thật ra đối với chính quyền Ngô Đình Diệm, những sự không quan trọng đều có thể khai thác đến mức trở thành quan trọng vì nó là những yếu tố, sự kiện riêng rẽ nhưng dẫn đến những kết luận trọng đại đảo khuynh thời cuộc. Vụ chú Viện sau đây là một điển hình:
Ngày 28-6-1963 một chú tiểu ở Huế ra thăm Quảng Trị bị Ty Công an Quảng Trị chận giữ, khám xét trong người bắt được một mảnh thư nhỏ gửi ra cho chú Viện trong đó có nói rằng “Nhiều vị tướng lãnh đã xin từ chức: Đại tướng Lê Văn Tỵ, Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ…” chỉ với mãnh giấy nhỏ này, ông Tỉnh trưởng Quảng Trị đã cho Ty Thông tin rêu rao là Phật giáo tung tin thất thiệt, có ý lũng đoạn Chính phủ, khuynh đảo chính quyền. Và từ đó một luận điệu tố cáo Phật giáo có khuynh hướng chính trị, Phật giáo khuynh đảo Chính phủ dựa theo các bằng chứng nhỏ nhặt đã được dùng như một chiêu bài khủng bố và đàn áp của ông Tỉnh trưởng. Tin này đã làm cho đa số công chức dao động, hoang mang, không dám bén mảng tới chùa Hội Quán.
VỤ TRƯƠNG KHUÊ QUAN
Tối 6-6-63 giữa lúc tình hình tranh đấu đang căng thẳng đến tột độ thì có tin Hòa thượng Thích Đức Tâm, cùng đi với trung tá Trương Khuê Quan đặc phái của Chính phủ về chùa Tỉnh Hội Quán. Trung tá đến trong một trường hợp hết sức bất ngờ, khiến cho mọi Phật tử phải xao động trước hết Trung tá vào chánh điện lễ Phật rồi vào yết kiến Thượng tọa Đôn Hậu tại hậu thất của Ngài. Trong cuộc nói chuyện, Trung tá có để bút tự xác nhận mấy điểm:
– Chính phủ đã chấp thuận tiếp kiến một phái đoàn Phật giáo để giải quyết về 5 nguyện vọng của Phật giáo.
– Trong khi chờ đợi công cử một phái đoàn đại diện chính thức, đôi bên sẽ chấm dứt những biện pháp mạnh, những sự bắt bớ khủng bố…
Một phái đoàn đại diện chính thức của đôi bên sẽ họp vào ngày được ấn định tại hội trường Diên Hồng và sẽ công bố bằng một bản thông cáo về sự thảo hiệp chung.
Sau khi Thượng tọa Đức Tâm và Trung tá Trương Khuê Quan trở về Huế, Thượng tọa Đôn Hậu dùng máy phóng thanh giải thích cho các hội hữu biết kết quả của cuộc đàm phán sơ bộ dựa theo 5 điểm trên. Thượng tọa xác nhận cuộc đàm phán này là thắng lợi của Phật giáo đồ, thắng lợi của công cuộc tranh đấu kham khổ, gay go mà các phật tử đã chịu đựng trong mấy tháng nay, trong đó Phật tử Quảng Trị đã đóng góp một thành tích xứng đáng.
Tóm lại, cuộc viếng thăm của Trung tá Trương Khuê Quan và Thượng tọa Đức Tâm gieo lên niềm tin tưởng mãnh liệt ở sự thành công của 5 nguyện vọng và tăng thêm sức phấn khởi cho các Phật tử hiện đang tranh đấu. Chính vì thế mà thái độ của chính quyền và phản ứng mãnh liệt.
Phản ứng của ông Tỉnh trưởng:
Sáng hôm sau 7/6/1963 một xe phóng thanh đến trước cổng đọc xỏ vào chùa nhiều lần bản thông cáo của ông Tỉnh trưởng với những lời lẽ hăm dọa quyết liệt. Bản thông cáo này phủ nhận tư cách đặc phái Chính phủ của Trung tá Trương Khuê Quan cho là Trung tá chỉ đến thăm với tư cách là bạn cũ của ông Tỉnh trưởng nên không có quyền và có thể xác nhận việc thương thuyết giữa Phật giáo và Chính phủ. Thêm vào đó thông cáo này còn cho rằng Phật giáo đã dùng những luận điệu thiếu lễ độ cần thiết đối với Chính Phủ gây tin tưởng vào những việc làm hay sắp tới.
Cuối bản thông cáo, ông Tỉnh trưởng còn hăm dọa dùng những biện pháp cần thiết để duy trì kỷ luật, trật tự và an ninh sẽ được áp dụng triệt để.
Bản thông cáo này được chuyển đến các cơ quân chánh, quân sự, thông tin trong Tỉnh để phổ biến nhiều khắp nơi.
Thế là trong thời gian mà hai bên đã thỏa thuận chấm dứt các biện pháp mạnh, tạo không khí ôn hòa thì đây không khí lại càng căng thẳng, những sự bắt cóc, để vòng vây phong tỏa lại xiết chặt hơn lên.
Một số phật tử đã mất hết tin tưởng thiện chí chính quyền.
Tình hình bên ngoài cũng trong lúc này nhiều cho biết rằng tại Huế, chùa Từ Đàm bị phong tỏa nghiệt hơn lúc nào hết. Điện nước bị cúp. Nhưng với tinh thần bất khuất, các Phật tử cam long chịu chết chứ không chịu nhượng bộ. Sự chịu đựng này kéo dài tới ngày 18-6-1963, 2 ngày khi bản thông cáo chung được ký kết, sau 16 ngày bị phong tỏa.
Kết thúc giai đoạn I đấu tranh cho 5 nguyện vọng, giai đoạn đấu tranh đánh dấu bao nhiêu chịu đựng khốc liệt của anh em Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử trong tinh thần kết ban bao nhiêu công đức hộ trì của các đạo hữu trong thị xã đặc biệt nhất là các quý bà: Những người đã có công lao nhất trong việc nuôi dưỡng lực lượng đấu tranh tại chùa Phật Giáo Quảng Trị.
Giai đoạn II sau ngày ký bản thông cáo chung công cuộc giải thoát: Trong cuộc đấu tranh, tại chùa đã hợp trên 150 Huynh trưởng khắp tất cả các nơi trong Tỉnh chưa kể đến số hội viên các nơi về trú ngụ và số hội viên thị xã thường xuyên lui tới phục dịch.
Công việc giải tỏa gặp nhiều khó khăn, về mặt chính quyền sự lưu thông ở trong tỉnh vẫn bị hạn chế triệt để chúng muốn ra ngoài quận hạt của mình phải có giấy tờ nhận (kèm theo thẻ kiểm tra) do quân hành chánh cấp, Phật Tử muốn trở về quê hương phải có giấy phép của Tỉnh tòa cấp.
Đó là một trở ngại mà đa số Phật Tử phải lo sợ vậy mà một số Phật tử tìm cách thoát về nhà đều bị công an chặn bắt và đưa về Ty giam giữ.
Trước tình trạng đó, ông Hội trưởng Tỉnh hội Phật Giáo Quảng Trị với tư cách ngoại giao đến thương lượng ông Tỉnh trưởng, xin để cho Tỉnh hội cấp giấy chứng nhận cho các Phật Tử trở về với nguyên quán, ông Tỉnh trưởng thỏa thuận, tuy nhiên những giấy chứng nhận này vẩn bị công an phủ nhận giá trị, nên tình trạng bắt giữ vẫn không chấm dứt.
Sau hết, ông Hội trưởng phải đề trình danh sách đầy đủ lai lịch lên ông Tỉnh trưởng để nhận giấy phép Tỉnh tòa cấp cho Phật Tử trở về.
Không khí vẫn khủng bố: Tuy vẫn được giấy phép của Tỉnh tòa cấp, các Phật Tử này khi về đến trạm kiểm soát vẫn bị xét hỏi ghi tên vào danh sách và chụp ảnh. Đối với các Phật tử hoạt động tích cực, có tên trong sổ đen vẫn bị giữ lại và đưa về Ty công an. Giá trị bản thông cáo chung bị phủ nhận thực sự.
Ngoài sự khám xét tra hỏi trên đây, các Phật Tử khi trở về nhà đều bị chính quyền địa phương mới về trụ sở giam giữ và bắt làm tự thuật, vì thế cho nên sau ngày ký thông cáo chung, một số Phật tử quan trọng vẫn phải tá túc lại tại chùa. Số này chỉ trở về nhà khi sự đi lại được tự do thủ tục bình thường.
Chính quyền thực thi bản thông cáo chung:
Sự phổ biến: trên lĩnh vực lý thuyết, bản thông cáo chung được chính quyền phổ biến và cho học tập rộng rải, họ không thêm không bớt và không bình luận gì cả. Trong một bài xã luận của Ty Thông tin đọc trên đài phát thanh Quảng Trị người ta chỉ thừa nhận tính cách hợp lý và khoan hòa của tổng thống Ngô Đình Diệm ,để chấm dứt tình trạng đấu tranh bất lợi của Quốc Gia. Khía cạnh thực thi không được đề cập đến. Nhưng luận điệu vu khống Phật giáo đã tưởng chừng như cáo chung.
Về phía Phật Giáo tuy vẫn giữ thái độ im lặng, chưa phổ biến bản thông cáo chung đã nêu lên những sự giải quyết chính đáng kết liễu những quyết định độc tài và thủ đoạn của tổng thống Ngô Đình Diệm nên được xem như là một thắng lợi tạm thời ưu thế của Phật Giáo thật đã quá rõ.
Phật Tử vì vậy đã lấy làm thỏa mãn. Nhưng những vi phạm bắt đầu:
Những vi phạm: Mấy ngày sau khi Ngô Đình Nhu ra bản thông cáo số 3 và 4 của Thanh niên Cộng hòa, dư luận chống đối bản thông cáo chung bắt đầu. Mở đầu chiến dịch Ty Thông tin cho phát thanh nhiều lần bản thông cáo này để gây dư luận.
Những buổi phát thanh thường được đọc vào khoảng 1 giờ hoặc 2 giờ sáng bằng máy khuyếch đại thanh cốt tạo một bầu không khí bất bình thường trong quần chúng. Sau đó một cuộc học tập công khai cho công chức, cán bộ hành chánh các xã do ông Tỉnh trưởng chủ tọa để thảo luận bản thông cáo đó. Tại hội nghị này, ngoài một số công chức Thiên Chúa Giáo đã tung vào luận diệu nói trên gây dư luận còn đa số công chức Phật giáo đều im lặng không phát biểu ý kiến, luôn giữ thái độ tiêu cực thụ động.
Một vài Phật Tử nêu lên những thắc mắc tổng quát sự mâu thuẩn giữa lập trường Thanh niên Cộng hòa và lập trường Chính phủ (đạo hữu Đặng Văn Tác) hay vấn đề tiên quyết giữa ý niệm quốc gia và ý niệm tôn giáo, nói chung trong hội nghị học tập này không một ai dám công nhiên đã phá những luận điệu phi lý và ngu dốt đã nêu ra trong những bản thông cáo số 3 và số 4. Sau cuộc học tập này những vi phạm bắt đầu:
1/ Vụ ám sát thầy Thích Khai Trí: Ngày thầy Khai Trí trụ trì chùa Sắc Tứ Tịnh Quang bị một số người lạ mặt xông vào nhà bóp cổ và đâm một nhát dao vào má bên phải.
Đây không phải là một vụ mưu sát chính thức mà là một thái độ dọa trước tín đồ Phật giáo. Đối với thầy Thích Ân Cần trị sự trưởng gióa hội Tăng Già đã nguyện thiêu thân để cúng dường 5 nguyện vọng Phật Giáo.
2/ Tổ chức Cổ Sơn Môn: Thầy Đỗ Phức Quản – Bích Khê là một tu sĩ tại gia (thầy 2 vợ) được ông Tỉnh trưởng mời lên Tỉnh tòa và cấp giấy phép đặc biệt cùng thầy Phước Điền đi dự đại hội Phật Giáo Cổ Sơn Môn, tại hội nghị này hai thầy được cấp cho 50.000$ để về tổ chức Cổ Sơn Môn tại Quảng Trị (Thầy Đỗ Phức được phong làm Hòa Thượng nhưng thầy không chịu, viện cớ mình là một tu sĩ tại gia có 2 vợ không thể giữ chức Hòa Thượng được).
Hai Thầy này vì không đủ đạo hạnh, giới luật nên không làm được gì.
3/ Những Phật Tử bị bắt trong thời kỳ tranh đấu vẫn bị đưa qua tư pháp để thụ lý. Hiện sau ngày ký bản thông cáo chung, các Phật Tử sau đây còn bị giam giữ:
- Trần Lợi.
- Nguyễn Đồng.
- Hoàng Liệu.
Ông Tỉnh trưởng viện cớ, những phần tử này đã vi phạm trực tiếp an ninh quốc gia đã đưa ra thụ lý bên tư pháp. Đây là một sự vi phạm công khai điều khoản quy định sự bắt bớ, bất luận ở nơi nào đều được Tổng Thống đặc biệt khoan hồng.
4/ Những luận điệu khủng bố Phật Giáo tham gia đấu tranh lại được tiếp tục khai thác để dàn áp sự trổi dậy của Phật Giáo trong phong trào đòi hỏi thực thi bản thông cáo chung.
5/ Phát động phong trào đòi hỏi thực thi bản thông cáo chung:
Tinh thần Phật Giáo sau ngày bản thông cáo chung ra đời:
Sau ngày ký bản thông cáo chung tinh thần Phật Giáo như trổi dậy. Thành phần cảm tình cũng gia tăng. Những buổi lễ hằng ngày tại chùa Tỉnh hội quán được rất đông người đến hành lễ, có lẽ sau những cơn mưa, trời lại sáng hơn và Phật Giáo sau những khủng bố đàn áp, nhân tâm càng hướng về nhiều hơn.
Tại Tỉnh hội lễ kỳ siêu cho Hòa thượng Quảng Đức cũng là ngày tuyên ngôn bản thông cáo chung. Buổi lễ này cử hành trọng thể, hội hữu đứng chật ních cả trong lẫn ngoài.
Di ảnh và trái tim kim cương của Bồ Tát được tôn trí tại chùa để cho các Phật Tử chiêm bái một lòng thành kính thật sự đối với vị Bồ Tát cúng dường thân xác cho 5 nguyện vọng của Phật Giáo Đồ.
Thời gian tối thiểu để chính quyền thực thi bản thông cáo chung, những sự vi phạm đàn áp càng ngày càng trầm trọng cho nên UBLPBVPG đã ra thông cáo phát động phong trào đòi hỏi thực thi bản thông cáo chung.
Ban Hướng Dẫn phát động: Tinh thần trong thời gian này Ban Hướng Dẫn tổ chức cuộc họp công khai Huynh trưởng các chi hội mà mục đích là phổ biến bản thông cáo chung, tổng kết trại họp bạn Tất Đạt Đa, chủ trương ngày đức hạnh và thảo hoạch dự án đệ tam cá nguyệt. Đây là một chương trình nghi trang mà nội dung chính là phát động tinh thần đấu tranh trong phong trào đòi hỏi thực thi bản thông cáo chung.
Cũng trong chương trình nói trên Ban Hướng Dẫn đã phổ biến những đặc điểm.
a/ Sự hợp lý của bản thông cáo chung. Đáng kể nhất là hai ý niệm tôn giáo và quốc gia được đặt đúng vị trí đúng lúc. Thật ra đây là một sự dung hòa hợp lý, một sự dung hòa cần phải có trong tinh thần công nhân của một quốc gia đang sống trong hoàn cảnh chiến sự rất là phức tạp mà thôi. Nó chỉ là sự hợp lý nhìn theo giai đoạn, nhìn theo căn cơ.
b/ Tính cách ngu dốt phi lý của bản thông cáo số 3 và số 4 của Thanh niên Cộng hòa.
Trước khi đi vào tinh thần bản thông báo này, đạo hữu Trưởng Ban Hướng Dẫn nêu lên những luận điệu vô liêm sĩ trắng trợn công khai phủ nhận sự thật của Ty Thông tin như phủ nhận công điện triệt hạ Phật Giáo kỳ một công điện đang nằm trong hồ sơ của BHD… việc tự thiêu của Hòa Thượng Quảng Đức thì lại bị vu cáo là một sự mưu sát, cố sát, án mạng, việc đấu tranh cho tự do tin ngưỡng thì bảo là do âm mưu của Cộng sản…..
Tiếp đó đạo hữu giải thích tính cách phi lý của 2 bản thông cáo.
– Đối với công điện triệt hạ cờ Phật Giáo, hai bản thông cáo này gán cho Phật Giáo ác ý triệt hạ uy thế quốc kỳ để gây mâu thuẩn, tranh chấp giữa hai lập trường quốc gia và tôn giáo, một chủ trương chia rẽ hết sức thâm độc.
Một mặt họ chủ trương dành địa vị tối cao cho quốc kỳ, mặt khác họ bảo không ai phụng Phật dưới Giáo kỳ, một mặt họ chối bỏ các đặc trưng thiêng liêng của tôn giáo, mặt khác họ đề cao đặc trưng thiêng liêng của quốc gia (những ý niệm hết sức hồ đồ và phi lý) đó là chưa nói đến những luận điệu cố gán cho Phật Tử, buộc tội cho Phật Tử phủ nhận Quốc kỳ, phủ nhận tinh thần quốc gia.
– Đối với dụ 10 bản thông cáo này thừa nhận vị trí trên một hệ thống quốc tế và quốc nội có kỷ luật rất tỷ mỹ chặt chẻ và mặc nhiên coi Phật giáo không hội đủ các điều kiện kể trên, Phật Giáo được theo quy chế đặc biệt của Thiên Chúa Giáo sẽ đem lại tai hại cho an ninh quốc gia, vì vậy mà phải liệt Phật Giáo như một tổ chức hiệp hội chỉ được Chính phủ chấp nhận về phía “thế tục xã hội” để chính phủ có thể kiểm chế, tránh áp:
Những nhận xét thiên kiến này phải chăng là nguyên nhân của sự bất bình đẳng?
– Về tài sản của Phật giáo để tránh việc áp dụng các quy chế cho các hiệp hội quốc tế, mà mục đích là hạn chế chuyển mãi tài Quốc Gia. Bản thông cáo này cho rằng Phật giáo đã từ chối mọi liên hệ quốc tế để đòi hỏi một chế độ ưu đãi, không phải chịu nhưng điều kiện về tài sản mà công giáo phải chịu (bất công) và cho rằng Phật giáo được ưu đãi như vậy, họ há không nhận thức được rằng sự tổ hiệp của Phật giáo quốc tế chỉ là sự tổ hợp phối quyền giữa các tổ chức Phật giáo các nước, mà ko giống như sự tổ hợp thống quyền của tổ chức Thiên Chúa giáo.
Ngoài những điểm nêu trên, cuộc giải thích này còn vạch ra những điểm phi lí của ba nhận xét căn bản nêu trên bản thông cáo của TNCH.
- Điểm thứ nhất: “Đối chiếu với Hiến pháp chính cương của Thanh niên Cộng hòa, bản thông cáo chung đã đặt ra những đặc quyền cho một nhóm, trong khi hiến pháp chủ trương đồng tiến xã hội …”
Về điểm này đạo hữu đặt lại quan điểm đồng tiến: tiến bộ là biết xác nhận những cái gì phù hợp với quyền lợi chính đáng của con người và vận dụng những quyền lợi ấy sang phạm vi thực hiện xã hội hợp lí. Tiến bộ cộng đồng không phải là ngăn chặn sự phát triển cá nhân, ngăn chặn những đòi hỏi chính đáng của con người khi chính những quyền lợi và nguyện vọng này không vi phạm đến nguồn sống và an ninh của dân tộc. Nếu nói tiến bộ thì sự đấu tranh cho tự do tín ngưỡng, cho tôn trí Đạo Kỳ trong các lĩnh vực cần thiết là lý tưởng cần đạt đến, cần tranh thủ cũng như tranh thủ địa vị của quốc kỳ trong đời sống tinh thần của quốc gia. Đứng trên các phương diện khác cũng vậy, sự bình đẳng tôn giáo, sự công minh trên phương diện khác cũng vậy, sự bình đẳng tôn giáo, công minh trên phương diện luật pháp quốc gia chứa ẩn trong tinh thần bản thông báo chung chính là những đặc điểm tiến bộ mà xã hội ta cần đạt đến.
Phật giáo tán đồng và nâng đỡ các tổ chức khác trên chiều hướng tiến bộ đó mà không bao giờ chiếm độc quyền và đặc quyền riêng của mình. Phật giáo chưa phản đối ai trong những tư tưởng chiều hướng kể trên.
- Điểm thứ hai: Bản thông báo chung trái với đường lối Thanh niên Cộng hòa, một lý tưởng hào hiệp, phụng sự dân tộc mà tượng trưng thiêng liêng là Quốc Kỳ (nằm trên bất cứ một thứ đoàn kỳ nào khác).
Nếu lý tưởng TNCH là cải tạo bản thân, phụng sự chính nghĩa quốc gia và cải tiến xã hội, thì bản thông cáo chung là sự giải quyết hết sức chính xác. Cải tạo bản thân, cải tạo con người không thể tách rời ra ngoài lĩnh vực văn hóa mà những kiến trúc đạo lý, những sản phẩm của tôn giáo là thượng kiến trúc của tinh thần và siêu việt tính của con người.
Cải tạo bản thân tức là hướng đến đạo lý, tín ngưỡng, thì tranh thủ quyền tự do tính ngưỡng, tranh thủ nguyện vọng của tôn giáo tức là giải quyết chiều hướng chính xác cho sự cải tạo bản thân trong đường lối của TNCH. Nếu đặt tư tưởng Phật Giáo trong mối quan hệ văn hóa hiện tại, trong sứ mạng tinh thần của xã hội hiện đại, chúng ta mới ý thức sự cần thiết về sự cải tạo con người, những con người ý thức đầy đủ quyền tự do của chính mình và năng lực sáng tạo của con người.
Vấn đề phụng sự Quốc Gia cũng vậy, phải chăng chính nghĩa Quốc Gia phải đặt trong chính nghĩa nhân quyền, vì Quốc Gia bắt buộc phải phụng sự nhân quyền, chứ không phải vì mệnh danh quyền lợi Quốc Gia mà thủ tiêu các quyền tối thiểu của con người. Đừng bắt con người phải nô lệ hoàn toàn cho một văn ảnh Quốc Gia.
Chiến đấu chống Cộng cũng đặt trong ý nghĩa đó.
Nêu lý tưởng TNCH: Là một lý tưởng hào hiệp bất vụ lợi, phụng sự dân tộc thì mục tiêu tranh đấu cho tự do tín ngưỡng, bình đẳng xã hội cũng là mục đích của TNCH, mà Quốc Kỳ tượng trưng thiêng liêng của Quốc gia phải được tôn trọng thì Đạo kỳ tượng trưng thiêng liêng cho ý tưởng tin ngưỡng, cho giá trị siêu việt tinh thần của con người cũng phải đặt đúng với vị tinh thần tối cao của con người (không thể đặt đạo kỳ ngang với đoàn kỳ của các đoàn thể khác và như thế là một sự biếm nhục quá đáng đối với các tượng trưng thiêng liêng của tín ngưỡng).
- Điểm thứ 3: Đối chiếu bản thông cáo chung với luật pháp hiện hành, có những chủ trương trái với luật lệ hành chánh….
Đối với điểm này bản thông cáo chung không đặt ra những thủ tục tố tụng đặc biệt, những cơ quan tư pháp đặc biệt, cũng không nêu lên những thể thức hành pháp riêng của mình, bản thông cáo chung chỉ đặt ra những thỏa hiệp cần thiết giữa Chính phủ và Phật giáo, thừa nhận Phật giáo như một cơ quan hợp pháp, đủ tư cách đề đạt tiếng nói chính đáng của mình, đặt ra các vần đề thuộc phạm vi tôn giáo để đảm bảo công quyền, nhân quyền, nhất là để quyền tự do tín ngưỡng khỏi bị hủy phạm, đảm bảo sự thực thi dân quyền trong một quốc gia dân chủ theo chế độ luật pháp hiện hành.
Sau khi giải thích các điểm nội dung trên, các văn thư có liên quan đến việc phát động đấu tranh đòi hỏi thực thi bản thông cáo chung được mang ra phổ biến.
– Văn thư Số 82 của Thượng tọa Thích Thiện Minh gửi Phó Tổng thống tố cáo sự vi phạm bản thông cáo chung.
– Chỉ thị triệt hạ cờ Phật Giáo để phản đối nghị định số 358 có tính cách chia rẽ tôn giáo của Bộ Nội Vụ.
– Thông bạch số 85 kêu gọi tín đồ hưởng ứng phong trào đòi hỏi thực thi nghiêm chỉnh bản thông cáo chung.
– Kiến nghị phản đối tình hình và dụng ý của nghị định số 358/BNV.
